Buổi chiều, đang đi bộ thể dục ngoài đường thì chú tôi gọi. Trả lời điện thoại của ông, tôi chỉ nghe tiếng được, tiếng mất bởi xe cộ qua lại ồn ào. Chỉ nghe giọng ông đứt quãng, nhắc đến một người chú khác của tôi vừa mất bên Việt Nam. Không biết ông đang mệt hay vì cảm xúc mà giọng như nghẹn ngào. Ông bảo tôi hôm sau hãy sang nhà gặp ông.

Cha tôi và chú Bốn Đinh Văn Mễ 

Ông là người em thứ tư của cha tôi mà trong gia đình chúng tôi vẫn quen gọi là chú Bốn. Nghe kể lại khoảng đâu đầu thập niên 50, nhà khá giả nên nội tôi cho các cô chú từ miền Trung vào Sài Gòn ăn học. Cha tôi là con cả nên ở lại trông nom ruộng vườn và dạy học. Tôi không biết nhiều về các cô chú mình cho đến đâu khoảng năm lên tám hay chín tuổi gì đó, thỉnh thoảng nhớ chú có ghé qua thăm nhà trong bộ quân phục và đã là một sĩ quan trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Vào Sài Gòn, không biết thế nào mà hai chú tôi lại đi theo hai ngả khác nhau. Chú Ba, em kế cha tôi đi theo các phong trào sinh viên học sinh rồi vô bưng, tập kết ra Bắc. Ông tiếp tục học hành, ra trường kỹ sư, trở thành một cán bộ miền Bắc. Còn chú Bốn tôi thì vào Võ bị Ðà Lạt, ra trường theo đời binh ngũ và đang là một Trung Tá chỉ huy tác chiến khi tan hàng.

Chiều 29 tháng Tư năm 1975, từ nơi đóng quân đâu đó ngoài Sài Gòn, ông quay về nhà tôi tại Tân Ðịnh. Nghe người lớn nhỏ to bàn bạc, rồi cha tôi ra xe jeep đi tìm đổi tiền đô cho chú tôi, chuẩn bị cho một chuyến đi xa. Tôi nhảy lên xe theo ông, vô tình lại chứng kiến một Sài Gòn hoang vắng. Quân đội tan hàng, chú tôi cũng trong số những sĩ quan cuối cùng tìm đường đưa vợ con lánh nạn.

Ðêm đó, rạng sáng 30 tháng Tư, gia đình ông xuống tàu di tản. Cha tôi quyết định ở lại, như ông từng ở lại quê lo cho gia đình để các em vào Sài Gòn ăn học.

Chú Bốn tôi ra đi thì chú Ba tôi về. Ông trở thành một cán bộ cấp cao trong chính quyền cộng sản. Cha tôi đi đón ông, không biết anh em sau vài chục năm gặp lại ra sao. Ðến lúc đó tôi mới biết mình có một chú ruột là cộng sản. Ông làm lãnh đạo một quận lớn ngay thành phố. Sau vài năm thì ông xuống làm một tổng giám đốc công ty quốc doanh. Nghe có vẻ như chức lớn nhưng không thể nào bằng trong chính quyền. Có thể ông cũng bị liên lụy khi có những anh em liên can tới chính quyền miền Nam. Tôi không chắc và cũng chưa bao giờ có dịp nói chuyện thật sự với ông về những chuyện đó hay cuộc đời ông. Cũng như với chú Bốn hay cả với cha tôi. Những thế hệ xưa dường như luôn cách biệt, chưa bao giờ cha mẹ hay người lớn chia sẻ, kể lại hành trình cuộc đời mình cho con cháu nghe.

Từ trái: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (quay lưng) với các Trung Đoàn Trưởng Khóa 16 tại chiến trường cao nguyên năm 1972 gồm Trung tá Đinh Văn Mễ (Chú Bốn X)- Trung đoàn trưởng Trung đoàn 47, Đại tá Nguyễn Hũu Thông – Trung đoàn trưởng Trung đoàn 42 và Đại tá Nguyễn Thiều -Trung đoàn trưởng Trung đoàn 41 thuộc Sư đoàn 22 Bộ Binh.

Những điều tôi biết chỉ là những điều nghe kể lại đó đây trong gia đình. Chú Ba tôi làm cho đến khi về hưu rồi bất ngờ bị tai biến. Sống đời thực vật và nằm yên một chỗ cũng gần hai chục năm qua, ông mới mất chỉ hồi tháng trước. .

Xem thêm:   Miền Nam yêu dấu

Còn cha tôi, nghe lời kêu gọi của ủy ban quân quản chỉ đi “học tập cải tạo” vài ngày cùng lời trấn an của em trai mình, ông cũng ra trình diện để rồi vào trại tù như hàng trăm ngàn quân dân cán chính của miền Nam. Từ miền Trung chạy vào Sài Gòn, cha tôi là một công chức cấp trung trong chính quyền, nhưng làm việc trong một chương trình đặc biệt mà nếu khai báo, chắc ông sẽ ở tù lâu hơn. Tuy chú tôi làm “cán bộ” cũng chẳng can thiệp được gì ngoài việc, mẹ con chúng tôi được “ưu tiên” đi thăm nuôi cha tôi nhiều thêm đôi lần.

Cha tôi đi tù vài năm rồi về, bị bịnh rồi mất. Chú Bốn tôi sang Mỹ, là một sĩ quan liêm chính, chẳng có thứ gì mang theo, gia đình ông bắt đầu vất vả làm lại từ đầu trên xứ người. Rồi đời sống cũng ổn định, các con khôn lớn, thành tài. Ông bà giao du quen biết rộng, hoạt động uy tín trong cộng đồng từ những ngày đầu tiên, lúc người Việt chưa có bao nhiêu. Ông về hưu đâu cũng trên dưới hai chục năm qua. Chúng tôi vẫn cảm kích khi thỉnh thoảng ông giúp đỡ gia đình tôi bằng những thùng “đồ Mỹ” hay chút ít tiền ngày Tết của một thời khốn khó sau 75.

Trong các cháu, tôi là người chẳng mấy gần gũi ông ngoài những dịp giỗ Tết trong gia đình. Ðó là nói về sự liên lạc tới lui, hơn là mặt tình cảm. Dù vậy tôi cảm nhận được ông vẫn thích trò chuyện cùng tôi, như đôi lần ông bày tỏ. Có lẽ tôi có những suy nghĩ độc lập, không bị ràng buộc vào mối quan hệ gia đình và tuổi tác trong các câu chuyện, có thể ông nghĩ rằng tôi hiểu những câu chuyện của ông hơn những đứa con cháu khác.

Xem thêm:   Nghịch lý...

Ðã tám mươi mấy tuổi, vài năm nay ông yếu hẳn, lại thường xuyên đau ốm. Khó còn hình dung một cấp chỉ huy tác chiến oai dũng ngày nào.

Biết bao nhiêu người, đã nằm xuống trong cuộc chiến khi tóc hãy còn xanh. Có lần chú tôi kể về một người bạn đồng môn tài ba, đỗ đầu khoá huấn luyện lại bị tử nạn ngay trong trận đánh đầu tiên.

Cánh đồng hoa bluebonnet tại Dallas, Texas – photo Hung Vo

Dịch bịnh xảy ra, lo cho sức khoẻ người lớn tuổi, chúng tôi không gặp ông gần cả năm trời. Nghe ông nhắc, đôi tháng trước tôi ghé thăm ông sau khi ông bà đã được chủng ngừa. Trò chuyện dăm câu, ông hỏi sao không thấy bài viết của tôi trên báo Xuân năm nay. Tôi dạ và trên đường về bảo nhau, “chú còn minh mẫn lắm, nhận ra cả những điều nhỏ như vậy”.

Buổi sáng qua thăm ông sau cú điện thoại, ông kêu tôi ra phòng khách. Tôi hơi phân vân, không biết ông sẽ nói điều gì khi thấy mặt ông đầy nghĩ ngợi, có vẻ buồn. Và quả nhiên, ông bắt đầu câu chuyện với nỗi buồn. Ông kể rằng trong đám tang của chú Ba tôi bên Việt Nam, ông ngồi đó vài ngày mà chẳng có ai ghé ngang hỏi han ông một tiếng nào. Tôi kín đáo quan sát ông. Ông nói rất tỉnh táo, nghiêm trang. Ông hết lật tờ báo Mỹ rồi đến tờ báo Việt để tìm tấm hình mà ông bảo đã chụp ông ngồi một mình trong đám tang bên Việt Nam. Thím tôi nháy mắt, ra dấu ông đã lẫn.

Xem thêm:   Ai cứu Miến Điện

Nhưng tôi không nghĩ vậy.

Tôi hiểu đó là cảm xúc và ký ức của ông về người anh trai mình từ trong vô thức. Mà cũng có thể đó là điều ông thật sự bắt gặp trong giấc mơ của mình. Sợi dây thiêng liêng của tình anh em ruột thịt bỗng trở về trong ông khi nghe tin anh trai mình qua đời. Tính cả trước và sau 75, hai chú tôi gặp lại nhau có lẽ cũng sau khoảng gần năm chục năm, khi ông có về lại Việt Nam một lần duy nhất, chỉ vài tuần sau khi nghỉ hưu, kịp trước khi chú Ba tôi bị đột quỵ để anh em có thể ăn uống, trò chuyện với nhau.

Hai anh em, hai chiến tuyến, không biết hai ông đã nói gì khi gặp lại nhau sau vài chục năm. Về tuổi thơ của những ngày còn ngoài quê, rồi những ngày được vào Sài Gòn ăn học? Hay về cuộc chiến huynh đệ tương tàn mà cha và chú tôi, cũng như hàng triệu con dân Việt Nam can dự như một định mệnh nghiệt ngã của dân tộc.

Tôi yêu thích lịch sử nên đã đọc và xem khá nhiều tài liệu, phim ảnh về cuộc chiến Việt Nam. Nhưng tôi không có câu trả lời của riêng mình. Bởi chiến tranh nào cũng khốc liệt, cũng tàn nhẫn và tương tàn, cũng chia cách như nhau. Dù với dân tộc nào hay ở bất cứ nơi đâu trên quả địa cầu này, không chỉ với cuộc chiến và dân tộc Việt Nam. Câu chuyện của các anh em cha tôi chỉ là mảnh ghép bé nhỏ trong bức tranh quá lớn.

Với riêng tôi, điều tôi đi tìm là làm thế nào mà những dân tộc khác đã vươn lên được sau chiến tranh điêu tàn và đổ nát. Và làm sao sau cuộc chiến, con người vẫn còn tấm lòng bác ái và những đóa hoa Xuân vẫn trổ bông hy vọng.

Nhìn ra cửa sổ, tháng Tư, mùa Xuân xem ra đã chín lắm rồi với những hàng cây lại xanh lá ở nơi thành phố tôi ở. Ngày mai tôi sẽ chở các con đến những cánh đồng hoa bluebonnet đang mùa để cảm nhận cái đẹp của thiên nhiên, của đời sống sau những ngày giá lạnh và dịch bịnh. Trời đã quá nửa tháng Tư rồi còn gì.

Dallas 04/2021

DYT