Tâm lý con người ta lạ lắm, nhất là những người đang ở độ tuổi thích sống với hoài niệm, khi những tờ lịch cuối cùng còn chưa bị xé hết, đã nghe không khí Tết rộn rã xung quanh mình. Cái không khí luôn được nhiều người mong đợi ấy cứ len lén chui vô từng góc nhà, tràn xuống từng góc phố, xuất hiện trong những câu chuyện nơi đầu đường góc chợ, trong những câu thăm hỏi xa gần. Nhưng đó là những mùa Tết cũ khi tôi vẫn còn ở nơi quê nhà những năm trước.
Ở bên này, Tết thường đến lặng lẽ hơn. Không phải vì người ta không ăn Tết, mà vì Tết không gõ cửa bằng những thanh âm quen thuộc như ở quê nhà. Không có tiếng rao bán đủ loại hàng hóa xôn xao từ mấy cái chợ chồm hổm ở mấy ngã tư gần nhà hoà quyện trong vô số mùi hương hoa trái, không có mùi nhang trầm dịu nhẹ phảng phất từ những căn nhà hàng xóm san sát nhau, càng không có cảm giác “Tết sắp về” rõ rệt như ngày trước. Tết nơi xứ người, nhiều khi chỉ là một dấu chấm đỏ trên tờ lịch treo tường, là những phong bao lì xì treo lủng lẳng trên mấy chậu tầm xuân trong mấy khu chợ Việt Nam hay những bài đăng quảng cáo bán thực phẩm Tết online rộn ràng… trên mạng. Tất cả như nhắc tôi rằng ở một nơi cách nửa vòng trái đất, mùa xuân đang rộn rã nơi quê nhà.
Tôi đã sống ở Mỹ vừa đủ lâu để quen với mùa đông lạnh giá – giữa thời khắc quê nhà ngập tràn ánh nắng xuân ấm áp, với những cái Tết chỉ gói gọn trong vài ngày nghỉ hiếm hoi do mình tự khuấy động lên cho đỡ nhớ. Đủ lâu để mỗi khi Tết đến, tâm trí lại tự động quay về một miền ký ức cũ – nơi có ngoại, có ba, có những mùa xuân không bao giờ trở lại.
Ngày đó, Tết bắt đầu từ rất sớm. Có lẽ từ khi những cơn gió tháng Chạp bắt đầu lao xao ngoài hiên, khi mấy cây mai trong xóm bắt đầu trổ nụ, là ngoại lại nhắc má tôi cái điệp khúc quen thuộc, lúc thì mua món này, nấu món kia, bàn thờ nhất định phải có mâm “ngũ quả”, cây mai trước nhà nhớ tước lá vào ngày nào là vừa… Ngoại tôi người nhỏ bé, tóc bạc trắng, mắt đã nhập nhèm khi mờ khi tỏ, tâm trạng lúc nhớ lúc quên nhưng mỗi khi nói đến Tết, giọng bà lúc nào cũng ấm áp, hứng khởi lạ thường. Đặc biệt là ngoại luôn nhớ và dặn dò không sót một chi tiết nào để có một cái Tết tươm tất, vẹn tròn.
Những cái Tết còn ngoại, nhà lúc nào cũng rộn ràng. Ngoại ngồi ở góc nhà, chậm rãi lau từng chiếc ly, cái dĩa kiểu, vừa làm vừa nhắc chuyện xưa. Ngoại thích làm mấy việc như vậy dù đám con cháu hay giành làm. Dường như chỉ khi tự tay làm mấy việc như thế này, ngoại mới cảm nhận được cái Tết đang đến rõ hơn, gần hơn. Ba tôi thì tất bật lau dọn mấy cái lư đồng trên bàn thờ, mấy khung cửa sổ, thay mấy cuốn lịch cũ, xịt rửa hết mấy chiếc xe máy của cả nhà. Ông bảo, Tết không cần phô trương, thừa mứa, chỉ cần nhà cửa sạch sẽ, ấm cúng, thức ăn vừa đủ là được.

Bảo Huân
Tôi nhớ nhất là những buổi đi chợ Tết cùng má và mấy đứa em. Chợ Tết ngày xưa đông nhưng không xô bồ, người đi chợ cũng không đề cao cảnh giác kẻ gian nhiều như bây giờ. Người ta đi chợ trong tâm thế thong thả, vừa mua vừa ngắm, vừa gặp gỡ, chuyện trò. Má nắm tay chị em tôi, rồng rắn dắt nhau đi giữa ngôi chợ quê đầy hoa trái, thanh âm, sắc màu. Hoa cúc vàng rực, vạn thọ cam ấm, mấy bó lay-ơn, lys được nâng niu đúng nghĩa “hứng như hứng hoa” vì mấy loại hoa này thường được trân trọng chưng bày trên mấy bàn thờ ngày Tết. Má thường đứng rất lâu trước một sạp hoa của người bán quen, nhìn ngắm, chọn lựa kỹ càng rồi mới quyết định mua như thể chọn hoa cũng là chọn vận may cho cả nhà trong năm mới.
Trong khi má cứ thoăn thoắt quẹo hết hàng này tới hàng khác, tụi tôi lẽo đẽo theo sau, đứa tay ôm giỏ, đứa khệ nệ ôm hoa, có đứa chật vật với con gà bị trói chặt chân mà vẫn giãy đành đạch, nhìn đâu cũng thấy Tết. Mùi nhang, mùi bánh mứt, mùi lá dong, lá chuối trộn vào nhau thành một thứ hương rất riêng – mùi của những ngày cuối năm, mùi của Tết. Có khi má ráng mua thêm vài món dù nhà không thiếu chỉ vì “Tết mà con, thà dư hơn thiếu”. Dường như cái ý nghĩ mong muốn cho cả nhà được đủ đầy, sung túc luôn thường trực trong tâm trí bất kỳ bà nội trợ, người vợ, người mẹ nào. Hơn nữa, má muốn mua nhiều hơn một chút để người bán có thể về sớm hơn một chút để lo Tết cho nhà mình.
Về nhà, cả nhà cùng nhau bày biện hoa trái lên bàn thờ. Dù mẹ tôi thường được nhiều người khen ngợi là đảm đang, tháo vát và chu toàn nhưng trong mắt ngoại, mẹ dường như vẫn còn là một đứa trẻ. Ngoại chỉ dẫn từng chút một: trái cây phải xếp sao cho cân đối, hoa phải cắm sao cho hài hòa, đèn nhang phải chỉn chu… Tôi khi ấy chưa hiểu hết ý nghĩa của những nghi thức đó, chỉ thấy mọi người ai cũng nghiêm trang, ai cũng như chậm lại giữa nhịp sống thường ngày.
Ngoại tôi mất đã lâu. Ba cũng đã theo ngoại về miền mây trắng sau khi vui trọn một cái Tết vào một mùa xuân chưa xa. Nhưng mỗi khi nghĩ đến Tết, hình ảnh hai người ấy vẫn hiện lên rõ ràng như thể chỉ cần quay đầu là thấy, như thể họ vẫn đang hiện diện đâu đây, sẵn sàng cùng cả nhà đón Tết.
Bây giờ, ở một đất nước xa xôi, mẹ con tôi cũng bày bàn thờ mỗi dịp Tết. Nhưng căn nhà rộng rãi nơi xứ người không đủ ấm cúng để tái hiện trọn vẹn không khí Tết năm xưa. Trái cây mua ở các khu chợ châu Á, hoa mua ở chợ Mỹ, những loài hoa sặc sỡ nhưng chẳng giúp tôi vơi đi nỗi nhớ những loài hoa mộc mạc ở chợ Tết quê, mọi thứ ở đây vẫn đủ đầy nhưng cảm giác dường như đã khác. Không còn tiếng ngoại nhắc nhở, càm ràm, không còn dáng ba lặng lẽ lụi cụi dọn dẹp hết thứ này đến thứ khác. Gia đình các anh chị em đều ở xa. Chỉ còn tôi và mẹ, thắp nhang cho những người đã khuất, chợt thấy Tết của mình sao mà hiu quạnh, mong manh. Cũng may, tôi còn có mẹ. Mà còn mẹ là còn Tết, ai đó từng nói vậy.
Tết ở xứ người, con cái đi học, người lớn vẫn đi làm như ngày thường, lịch trình vẫn bận rộn như Tết không hề ghé qua đây. Buổi tối, cả nhà quây quần bên mâm cơm có bánh chưng, dưa món, canh khổ qua, dĩa thịt kho trứng – những món ăn mang theo ký ức Tết nơi quê nhà. Trong câu chuyện của mọi người, dù không chủ ý nhưng ai cũng nhắc đến những mùa Tết cũ. Dọn dẹp xong, tôi hay ngồi yên lặng nhìn ra ngoài khung kính cửa sổ, nơi tuyết lã chã rơi trắng trời, nghe ca sĩ Bằng Kiều hát Lạc mất mùa xuân đầy da diết, lòng chợt nhớ những ngày giáp Tết ở quê, khi trời se se lạnh, nắng vàng ươm như mật rải đều trên khắp cành cây ngọn cỏ, khi tiếng cười nói rộn ràng khắp con đường trước nhà.
Tôi nhận ra, Tết không chỉ là một cái mốc thời gian mà còn là ký ức hằn sâu trong tâm khảm mỗi người, là thứ mà càng già đi người ta càng nhớ rõ trong khi lại quên đi nhiều thứ. Tết nằm lại nơi những người đã đi qua đời mình, trong những thói quen tưởng chừng nhỏ nhặt: đi chợ hoa cùng má, nghe ngoại kể đi kể lại những câu chuyện cũ xì, cùng ba lặt lá mai vào những ngày tháng Chạp… Khi những người ấy không còn, Tết của đất trời vẫn vậy nhưng Tết trong lòng người ở lại dường như cũng đổi thay theo.
Nhưng có lẽ, chính vì vậy mà Tết hoài niệm mới trở nên quý giá. Nó nhắc tôi nhớ mình đến từ đâu, nhắc tôi trân trọng những gì vẫn còn lại sau những gì đã mất, và nhắc tôi gìn giữ những giá trị cũ cho thế hệ sau. Tôi kể cho con tôi nghe về những cái Tết không có iPad, không có mạng xã hội và game online, chỉ có không khí gia đình và sự chờ đợi, nôn nao, háo hức, giản dị mà hạnh phúc.
Tết ở nơi xa, tôi chẳng mong gì nhiều. Chỉ mong có một buổi chiều yên tĩnh, thắp nén nhang, gọi tên những người thân yêu trong lòng, và cho phép mình được thả hồn theo nỗi nhớ. Nhớ để thấy mình vẫn còn quê hương ngự trị trong lòng, vẫn vẹn nguyên một miền Tết cũ – nơi có ngoại, có ba, và có một tôi của những ngày rất trẻ, trong veo, luôn háo hức mỗi độ xuân về.
VL








