“…Chỉ là những câu chuyện vụn vặt được chắp nối qua những mảnh đời dân quê miệt kinh rạch hầu san sẻ cùng bạn trẻ, những người chưa hoặc không có dịp sống gần gũi với dân ruộng về các miền kinh rạch ấy như một nét đặc thù của văn minh Việt bên cạnh một nếp “văn minh miệt vườn” khá sung túc, trù phú…” (Hai Trầu Lương Thư Trung).
Luôn tự nhận mình là một “người nhà quê”, nhưng ai cũng hiểu là cách nói khiêm cung của một học giả, kiến thức quảng bác, như bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trìu mến nhận định “Nó là văn chương miệt vườn. Sau này muốn biết về miền Nam mưa nắng hai mùa ra sao thì phải đọc Sơn Nam và Hai Trầu thôi.”.
Mời bạn cùng chúng tôi dạo chơi cùng mưa nắng miền Nam…

(tiếp theo)
Thăm nom bà con
Kinh xáng Bốn Tổng ngày… tháng Ba, năm 2000.
Cậu Hai có mấy lời thăm hai cháu Long Phụng,
Hôm trước viết cái thơ cho hai cháu, cậu nghĩ lại cũng vui, vì lâu quá rồi cậu mới có dịp tâm sự cùng hai cháu về cảnh nhà của mình. Cậu mừng nhứt là chị Năm, má của hai cháu, vẫn mạnh giỏi dù tuổi ngoài tám mươi tư rồi. Đời nào cũng vậy hai cháu à, hễ già là con mắt con mũi tèm lem lắm. Người bị mây thịt lan vô tròng đen. Người bị cườm khô, cườm nước làm mờ con mắt. Nhưng có điều con mắt sáng hay mờ như trời đất sắp bày sẵn rồi. Tuổi ngoài bốn mươi hai con mắt bị mờ mờ. Đến tuổi năm mươi mang kiếng làn. Tuổi sáu mươi con mắt tối hù, không mang kiếng là không thấy gì ráo trọi. Chừng trên bảy mươi, tự dưng khỏi cần mang kiếng mà hai con mắt sáng như ban ngày. Xỏ chỉ, hoặc may vá gì cũng không cần mang kiếng làn mà vẫn thấy rành rạnh như hồi còn nhỏ.
Thế mới lạ phải hông hai cháu? Kỳ này hơi rảnh rang, cậu có dìa dưới Bến Tre thăm bà con mấy bữa. Ôi thôi, bà con gặp cậu mừng lắm. Gần mấy chục năm không có xuống dưới này, bây giờ vườn tược lạ quá là lạ. Cậu có ghé Mỏ Cày thăm cô Kim Anh, cô giáo dạy tiếng Anh cho cậu hồi trước, lúc cậu còn nhỏ đi học trên trường tỉnh. Cô giáo của cậu bây giờ tóc bạc nhiều rồi. Nhìn tới nhìn lui cậu thấy cái thời của cậu ai cũng già ráo trọi. Cậu có ghé Cái Mơn, Ba Tri, Hàm Long, Cồn Phụng nữa. Xứ sở miệt dưới này dừa là dừa. Đi đâu cũng thấy dừa xanh rợp trời, mà vườn cây trái cũng bạt ngàn. Cậu hỏi thăm bà con mần ăn ra sao? Được biết giá cả cũng rẻ mạt, nên nhà vườn có người khá, người nghèo không nhà nào giống nhà nào.
Đi vòng quanh khắp nơi cậu mới biết giá cả miệt vườn này có nhiều cái vui. Bây giờ ngộ lắm hai cháu ơi. Cái gì cũng bán theo ký lô không hà. Đôi chỗ cũng còn bán theo chục mười hai, chục mười bốn, nhưng hiếm khi bán chục mười sáu. Chẳng hạn nhãn dày cơm giá 1,200 đồng một ký lô, còn nhãn hột tiêu thì mắc hơn gấp bội. Xoài cát thì 40,000 đồng một chục mười hai. Chôm chôm tróc 2,000 đồng một ký lô. Sầu riêng Thái Lan mắc hơn, tới 9,000 đồng một ký lận. Nhưng bòn bon giá quá cao, tới 25,000 đồng một ký lô. Không tiền là nhịn thèm, chứ mua đâu có nổi. Miệt này trái cây gì cũng có từ mít tố nữ, mít Mã Lai trái rợp nhánh oằn cây. Có cây trái sai tới ba bốn trăm trái. Có khi trái nứt ra từ mấy cái rễ nữa. Mỗi trái nặng cỡ một ký lô. Giá bán cũng đỡ đỡ là 1,500 đồng một ký lô. Cậu thấy người ta bán dừa dâu 500 đồng một trái. Còn dừa xiêm 24,000 một chục mười hai. Mấy tháng nắng, nước mặn tràn vô, dừa mắc lắm, nhiều khi uống không nổi. Lâu lâu dìa thăm một lần nên bà con ở vườn bẻ dừa cho mình uống khỏi trả tiền. Vậy mà cậu uống riết bắt ngán.
Hai cháu Long Phụng,
Hai cháu hồi đó tới bây giờ có thấy ở xứ mình có ai bán chuối lá xiêm mà cân ký lô hông? Vậy mà bây giờ miệt vườn Bến Tre, người ta bán chuối bằng ký lô. Chuối lá xiêm loại lớn trái tới 1,500 một ký, chớ ít ỏi gì. Hồi trước người ta vô vườn mua chuối tính bằng nải, bằng chục, mà nải chót chủ vườn cho người mua không tính tiền. Nhờ vậy đi mua chuối mới có lời. Bây giờ cân ký lô thì đành chịu.
Thời buổi này cái gì cũng đem cân ráo trọi. Vì vậy, nên nhớ hồi trước mà thương cho người xưa thiệt thà chất phác quá mạng, cây nhà lá vườn, nên vừa bán vừa cho. Hai cháu ở bên đó có mua ổi xá lị ăn hông? Kỳ xuống Cái Mơn, cậu Hai thấy ổi xá lị rẻ mạt. Loại lớn 1,200 đồng một ký lô; còn ổi dạt tính trung bình 300 đồng một ký. Ai mạnh ăn, ăn chừng một ký lô là đi hết muốn nổi vì bị ổi hành xót ruột. Cha, còn món cá tôm thì xứ này mắc như vàng. Tép tới 35,000 đồng một ký lô. Tôm lớn mắc lắm, mua ăn hổng nổi đâu. Cậu thấy người ta bán tới 120,000 đồng một ký lô mà ngán ngẩm. Trong khi đó cua biển loại nhỏ 65,000 đồng một ký. Còn gạo tàu hương 5,500 đồng một ký. Gạo nàng Loan, cậu thấy người ta bán 5,200 đồng một ký. Nghèo nghèo như cậu, chắc mua được gạo thần nông Tám là quý rồi, nói gì tới gạo tàu hương, nàng loan, cao vòi vọi làm sao vói cho tới. Vậy mà gạo hạng xoàng xoàng cũng 2,800 đồng một ký. Nhưng giá gạo thì vậy, còn lúa mình làm bán ra đầu mùa năm này không được giá lắm.
Còn cá mắm cũng mắc thấu xương. Chắc sông rạch bây giờ cá ít vì trên đồng thuốc sâu quá mạng, nên các loại cá chết ráo trọi, chỉ còn cá nuôi hầm. Cá tra rẻ mạt, một ký lô bán được 10,000 đồng. Còn các thứ cá khác như cá lóc lớn tới 20,000 đồng một ký. Cá biển các loại bổ đồng 8,000 đồng một ký lô. Nhưng thịt heo mắc giàn trời mây. Thịt đùi giá mỗi ký gần bằng giá một giạ lúa. Tới 28,000 đồng lận. Mỡ sa cũng 10,000 đồng một ký rồi; riêng thịt bò loại ngon giá cũng đâu có thấp, cậu thấy người ta bán tới 35,000 đồng một ký thịt bò ngon. Bà con mình thường nói “trâu teo, heo nở”, thành ra cậu không rành bò nở hay bò teo!
Nhưng có mấy món này, hồi cậu còn nhỏ, chỉ kêu người ta để cho mà nhiều lúc người hàng xóm không thèm lấy, đó là nấm rơm, nấm mối. Hồi đó, hai thứ nấm này mọc đầy vườn. Nơi nào có mối ở là có nấm. Nơi nào có rơm mục là có nấm. Vậy mà bây giờ, dưới miệt Bến Tre, nấm mối lại bán có giá. Tới 60,000 đồng một ký lô nấm mối mọc hoang trong vườn lúc đầu mùa, khi đông ken giá sụt xuống còn 35,000 đồng một ký. Cậu nghe nói mà tản thần hồn. Hồi đó vườn của ông nội cháu Long cũng như vườn của Tiá cậu mối quá là mối. Nhiều chỗ mình đi, nghe ổ mối kêu ro ro dưới đất như người ta đào hầm. Tới mùa mưa nấm mối từ dưới đất nơi có ổ mối lú đầu lên trắng dã, mặc sức mà nhổ. Hồi đó có ai bán buôn gì ba cái loại nấm mối, nấm chuối này. Nấm rơm, bây giờ người ta trồng, giá đỡ hơn. Mỗi ký lô nấm rơm hôm cậu xuống đây giá 12,000 đồng. Nhưng nấm rơm mọc tự nhiên thì ngon. Còn nấm rơm người ta rải meo lên rơm để trồng thì ăn vô nóng khô cổ họng, không thấy béo bổ gì mà mắc quá là mắc.
Còn nhiều thứ lắm, cậu không nhớ hết hai cháu à. Hổm rày dìa lại trên này, cậu còn mệt quá mạng, tới nay mới ghi mấy hàng này cho hai cháu rõ chuyến xuống miệt vườn thăm bà con để hai cháu biết. Mấy chục năm rồi chứ ít ỏi gì nên bà con cũng quên cậu bộn, một hai người còn nhớ, phần đông thì sắp nhỏ mới lớn nên cũng lạ chỗ bà con xa. Thôi cũng đừng trách ai làm chi, chỉ trách mình ít lui tới, nên bà con càng ngày càng xa là vậy! Cho nên, dòng họ nhiều đời mà không thăm nom thì lạc nhau là vậy.
Thành ra, cậu muốn nhắn hai cháu là dù mình có ở chân trời góc biển nào đi chăng nữa, nên nhắc cho sắp nhỏ nhớ dòng họ ông bà, cô bác, anh chị em bên nội, bên ngoại để cho nó biết đường mà mò ra nguồn gốc tổ tiên. Còn nếu không, thì không bao lâu nữa, tới đời cháu nội, cháu ngoại của hai cháu, tụi nhỏ sẽ quên tuốt luốt cái gốc của nó là dân ruộng dân quê mộc mạc hiền từ. Nhớ vậy nhe hai cháu! Thôi cậu Hai ngừng cái thơ ở đây. Cậu thăm hai cháu cùng sắp nhỏ mạnh giỏi.
Cuối thơ,
Hai Trầu
Thăm bịnh
Kinh xáng Bốn Tổng ngày… tháng Tư, năm 2000.
Chú Ba bầy trẻ,
Mấy bữa rày, trời hầm hì quá, nên lúa thóc dù có chạy nước khỏa bờ bi mà vẫn thấy cái đọt tóp rọp như bị rầy mò đeo. Hôm kia, tui mới kêu mấy đứa nhỏ bơm nước thêm để ngồi chờ mưa hoài chắc lúa chết vì nắng hạn khô rang, khô khốc. Căn dặn sắp nhỏ trong nhà xong xuôi, tui mới đi Sài Gòn mấy bữa để thăm thằng Tám Tình bị bịnh nằm nhà thương.
Trời thần ơi, lâu quá mình mới lên đây, sao mà giống Tư Ếch đi Sài Gòn như hồi Hề Minh còn hát cải lương quá chú Ba. Cái gì cũng lạ. Cái gì cũng xô bồ xô bộn, rần rần rồ rộ. Nhứt là cái nạn xe honda chạy ẩu. Đường ngược, đường xuôi gì họ cũng chạy tán loạn, nhiều người bất cần luật lệ đèn đỏ, đèn xanh gì ráo trọi. Nhiều lúc mình đi gần bờ lề, xe cũng muốn tông vô luôn. Chiều chiều nắng bớt nóng, tui xuống đứng gần gốc me, sao mà tui sợ quá chú Ba! Vì vậy mà vô nhà thương là thấy người ta nằm ngáp ngáp vì ba cái vụ đụng xe honda nằm sắp lớp. Con nhà giàu có. Con ông cháu cha có. Con cháu Việt kiều có. Toàn là những người có tiền muôn bạc vạn.
Ngồi trong sân nhà thương, rồi mới nghe mấy người sinh sống ở Sài Gòn lâu, vô đây nuôi bịnh, mới kể cái mốt ăn nhậu của Sài Gòn bây giờ mới ớn. Ban đêm là nhậu nhe chú, tiền thôi là tiền. Tới thịt cá sấu mắc như vàng mà người ta còn dám ăn, thì còn thứ gì họ lại từ nan. Nghe người ta kể rồi tui mới nhớ hồi đời xưa dân miệt Gành Hào, miệt U Minh Hạ tuốt dưới Cà Mau, bắt sấu. Sau này ông Sơn Nam có viết thành truyện, thành sách vở nghe mà phát rùng mình.

Hồi trước, chú Ba bầy trẻ có đọc truyện Sông Gành Hào, trong cuốn Hương Rừng Cà Mau, của Sơn Nam, có ông Tư Đức câu con cá sấu lớn lắm, hồi đời Tây? Phải gan dạ lắm như ông Tư Đức mới bắt được cá sấu để cứu nhân sanh. Cho đến Tây kiểm lâm còn phải nể. Còn bây giờ ngồi không mà ăn cá sấu như dân tiền dư bạc để chắc chẳng cứu được ai, phải vậy hông chú Ba?
Bây giờ là mùa xoài, mùa mận chín chú Ba à! Đi đâu cũng thấy xoài, thấy mận bày bán ê hề. Trời nóng mà ăn mận với muối ớt làm cách gì cũng phải sặc hơi. Vậy mà gặp mận với chén muối ớt cứ thèm chảy nước miếng gần chết, cầm lòng không đậu, bắt phải ăn. Cha nhắc tới mận, là tui nhớ chú Ba bầy trẻ có tật thích mận chấm với nước mắm đường dầm ớt cho cay, rồi lai rai ba sợi đế giải nghệ. Sao, bây giờ chú còn uống rượu đế nổi hông? Mà chỗ chú ở có ai bán rượu nếp, rượu gạo như bên mình hông chú? Tui nghe con ông Tám Ba Bần viết thơ dìa có kể ở bên đó có bông so đũa, có vú sữa, có ổi xá lị, có cá bóng tượng, có lươn vàng, lươn bông, có ếch sống, có cá rô đồng, cá lóc nữa. Mà giá bán mắc ớn thần hồn. Nghe đâu hai trái vú sữa cũ mèm cỡ cườm tay sắp nhỏ mà bán tới 7 đô la, nghe mà ớn mạng! Ông Tám nói lại, cá bóng tượng cỡ cườm tay bán tới 15 đô la một “phao”, tính ra cỡ chừng gần nửa ký-lô-gờ -ram bên mình mà phải mấy trăm ngàn đồng. Còn lươn thì rẻ hơn nhưng cũng tới 11 đô la một “phao” chứ ít ỏi gì. Mắc quá vậy, làm sao có tiền mà mua ăn cho phỉ phải hông chú? Thời buổi này, trăm thứ trăm mắc mà! Chỉ có lúa là rẻ rề. Nghĩ mà buồn cho dân ruộng rẫy. Cực nhiều mà hưởng ít, nào có dám trách ai!
Sau chuyến đi Bến Tre hôm trước, rồi chuyến đi Sài Gòn kỳ này, sẵn dịp tui có lên Thủ Dầu Một, Lái Thiêu thăm vườn chơi. Ý mèn ơi, ở đây vườn cây um tùm mà chủ yếu là vườn măng cụt, vườn mận. Còn đồ gốm cũng nhiều, đủ loại, đủ kiểu. Mấy cái ché da lươn mà người ta thồ trên chiếc xe đạp chở dìa miệt mình là ché làm ở Lái Thiêu đó chú. Chú Ba còn nhớ hông, mỗi chiếc xe đạp nhỏ xíu vậy mà người ta thồ tới 6 cái ché đặng. Phải chuyên nghiệp lắm mới dắt chiếc xe nặng nề này, bằng không là té ngã liền.
Đi vô tận nơi rồi, mình mới thấy sống ở đâu quen đó, làm nghề gì quen nghề nấy, chưa biết nghề nào khoẻ hơn nghề nào, nhưng sướng cực là do mình. Quen nước quen cái mà! Tui thấy mình không quen, dù có sống giữa Sài Gòn cũng thấy cực như thường, huống gì nói tới miệt nhồi đất, nắn lò, nắn chén, nắn khạp, nắn lu…
Chú Ba bầy trẻ,
Tui đi một vòng vậy mà cũng gần 10 ngày. Dìa nhà ngồi nghĩ lại chuyện đời, tui mới thấy tức cười. Chú biết tui muốn cười gì hông? Chuyện đời là cái vòng lẩn quẩn chú Ba à! Hồi xưa cá sấu vùng U Minh Hạ miệt Cà Mau thành tinh ăn thịt người; muốn câu nó, phải hú ba hồn bảy vía cô hồn bị cá sấu ăn dìa phò trợ mới câu được. Còn bây giờ người ta ngồi giữa chỗ đô hội mà cũng ăn được thịt cá sấu, nghĩ cũng tài! Phải vậy hông chú Ba? Thăm chú thím và sắp nhỏ mạnh giỏi nghe!
Cuối thơ,
Hai Trầu
(còn tiếp)










