Chương “Tử chiến Guadalcanal” trong hồi ký Sakai toát lên một thực tế: Khả năng sáng chế liên tục các kiểu máy bay tân kỳ của kỹ nghệ Hoa Kỳ. Khác oanh tạc cơ thuần thả bom từ cao độ, phóng pháo cơ sà thấp phóng thủy lôi, đâm bổ ném bom hoặc “strafing” quét đại liên sát mặt đất. Lần đầu tiên Sakai chạm trán các phóng pháo cơ Douglas SBD Dauntless hỗn danh “Lá Gan”, hiểu ngầm là “Gan dạ” Grumman TBF Avenger, “Kẻ báo thù”. Chính cấu trúc cứng, bọc thép toàn phần, cùng tính cơ động mạnh lên đến 1,900 mã lực của chiếc Avenger trang bị 6 trọng liên trong đội hình Defensive Box, so với động cơ 840 mã lực và thân không bọc thép của chiếc Zéro, làm nên ưu thế của các phi công US NAVY. Cũng lần đầu tiên Sát tinh Sakai trúng đạn! Riêng hậu thân của chiếc Dauntless và Avenger sẽ là máy bay Douglas A1-Skyraider “Kẻ Cướp Trời” rất quen thuộc với Không quân VNCH.

[Trần Vũ]

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật

Nhiều kỳ – Kỳ 19

Chương 18 (tiếp theo)

Tôi quay lại để kiểm soát các phi cơ bên cánh của mình. Nhưng, nhìn khắp nơi, tôi vẫn không thấy Yonekawa và Hatori ở đâu. Phi cơ của Ðại úy Sasai, với hai sọc xanh kẻ dọc theo thân, trở lại đội hình với nhiều chiến đấu cơ khác bay thành hàng phía sau ông. Nhưng vẫn không có hai phi cơ bên cánh của tôi.
Cuối cùng, tôi nhìn thấy họ bay khoảng 500 m phía dưới mình. Tôi há hốc miệng. Một chiếc Wildcat đơn độc truy đuổi ba chiếc Zéro đang cuống cuồng lẩn trốn. Chiếc Wildcat nhả từng tràng đạn. Tôi lắc cánh để báo hiệu cho Sasai và chúi xuống. Chiếc Wildcat đang bám sát, rót đạn vô cánh và đuôi của một chiếc Zéro. Trong lúc khẩn cấp, tôi bắn vội một viên đại bác. Lập tức chiếc Wildcat lảng ra bằng cách lộn nhào một vòng về phía phải, quành thật ngặt rồi vượt lên đâm thẳng vào phi cơ của tôi. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy một chiếc phi cơ địch nào bay mau lẹ và đẹp mắt như vậy. Mỗi giây các họng súng của nó mỗi chĩa vô sát bụng tôi hơn. Tôi lăn thật nhanh để tránh né. Chiếc Zéro rùng mình khi tôi hạ mạnh tốc độ xuống. Vồ trật, viên phi công địch lộn ngược trở lại. Tôi tăng gia tốc, lộn ngay về bên trái. Ba lần lộn nhào, tôi cho chiếc Zéro xoay tít để rớt xuống theo hình trôn ốc. Cả hai chúng tôi cùng giữ hai chiếc phi cơ xoáy hình trôn ốc này. Tim tôi đập liên hồi và đầu tôi như có sức mạnh ngàn cân đè lên. Mắt tôi nổ đom đóm. Tôi cắn chặt răng chịu đựng lực ly tâm. Nếu kẻ nào bỏ cuộc đầu tiên, lảng ra một hướng để giải toả áp lực, kẻ ấy sẽ đi đời. Ðến vòng xoáy thứ năm, chiếc Wildcat hơi lơi ra. Tôi sẵn sàng khai hỏa, nhưng đối thủ chúc mũi xuống, tăng gia tốc và, một lần nữa, viên phi công địch nắm vững cần lái. Ðáng nể!

Tuy nhiên, hắn sai lầm ngay phút kế đó. Thay vì tiếp tục vung trở lại vòng xoáy thứ sáu, hắn nhấn thêm ga, phá vỡ một góc vòng xoay và lộn nhào theo hình thắt nút dây. Tôi chĩa mũi ngay phía sau, cắt ngang đường bay của hắn. Và tôi cứ cắt như vậy nhiều lần, khiến cho hình thắt nút dây của hắn càng lúc càng thâu hẹp lại. Khi hai phi cơ còn cách nhau 50 thước, chiếc Wildcat bỏ lối bay cũ để vượt thẳng lên. Một lối tránh né mạo hiểm! Ở khoảng cách hiện thời, tôi không cần sử dụng đại bác 20 ly. Tôi rót 200 viên đạn đại liên vô phòng lái, nhìn thấy đạn soi thủng lớp kim khí mỏng và phá tan kiếng chắn gió của chiếc Wildcat. Mảnh sắt văng lên không trung. Tôi không thể tin nổi vào đôi mắt của mình. Chiếc Wildcat vẫn tiếp tục bay như không có việc gì xảy ra. Nếu phòng lái lãnh đạn như vậy, một chiếc Zéro sẽ bốc cháy lập tức. Tôi không sao hiểu nổi. Tôi gia tăng tốc lực, tiếp tục áp sát đối thủ, vừa đúng lúc chiến đấu cơ địch mất tốc độ. Làm trong một thoáng, tôi đã trượt ra phía trước chiếc Wildcat mươi thước. Tôi đưa lưng, chuẩn bị ăn đạn của đối phương.

Xem thêm:   Walter Reed - Quân Y Viện Hoa Kỳ

Không một viên đạn nào bay đến! Các khẩu súng của chiếc Wildcat vẫn im lặng. Tôi hạ tốc độ cho đến khi hai phi cơ bay song song. Tôi mở cửa buồng lái để nhìn. Tôi có thể nhìn thấy viên phi công địch rõ ràng. Một người khổng lồ với gương mặt bầu bĩnh, mặc quân phục ka ki nhạt, có vẻ đứng tuổi.

Chúng tôi bay song song nhiều giây trong đội hình kỳ quái. Ðôi mắt chúng tôi gặp nhau qua khoảng không gian nhỏ hẹp giữa hai chiếc phi cơ. Chiếc Wildcat như một đống sắt vụn. Nhiều lỗ đạn soi thủng ở thân và cánh từ bên này xuyên suốt qua bên kia. Bánh lái sau đuôi phi cơ te tua, những miếng kim khí chĩa ra giống như một bộ xương. Tôi có thể hiểu tại sao viên phi công không khai hoả: máu ướt đẫm vai và chảy thành nhiều vệt xuống ngực hắn. Vậy mà phi cơ của hắn vẫn còn bay, không thể tin nổi. Nhưng tôi không thể hạ sát một người bất động, mang đầy thương tích, trong một chiếc phi cơ chỉ còn là một đống sắt nát. Tôi giơ nắm tay trái lên lắc lắc la lớn, biểu hắn hãy đánh nhau thay vì bay giống như một con bồ câu đất, mặc dù tôi biết chuyện đó khó xảy ra. Viên phi công Mỹ nhìn tôi có vẻ hoảng sợ, hắn giơ tay phải lên vẫy vẫy một cách yếu ớt. Như hắn muốn phân bua.

Tôi chưa bao giờ có cảm giác kỳ dị như thế này. Tôi đã giết nhiều người Mỹ trên không, nhưng đây là lần đầu tiên, trước một đối thủ kiệt lực mang đầy thương tích, tôi lại ngần ngừ. Tôi không biết có nên dứt điểm hắn hay không. Nhưng ý nghĩ của tôi rõ ràng là ngù ngờ. Bị thương hay không, hắn cũng là kẻ thù, một kẻ thù vừa hạ ba đồng bạn của tôi vài phút trước đây. Tuy nhiên, thật sự tôi muốn hạ chiếc phi cơ hơn là hạ viên phi công.

Tôi lùi lại và lướt đến sau đuôi chiếc Wildcat. Viên phi công cố thu hết năng lực cuối cùng để đưa chiếc phi cơ của hắn lướt lên. Tôi nhắm đầu máy và ấn cò đại bác. Một tiếng nổ bùng với lửa và khói túa ra. Chiếc phi cơ lật nhào và viên phi công nhảy dù ra ngoài. Phía dưới tôi, gần đúng trên bãi cát Guadalcanal, chiếc dù bung ra. Cuối cùng, tôi thấy viên phi công đáp xuống bãi biển.

Ba chiến đấu cơ Zéro khác đã trở về kết hợp bên cánh của tôi. Chúng tôi cùng vượt lên và quay trở lại Guadalcanal để kiếm phi cơ địch nữa.

Ðạn cao xạ bắt đầu nổ quanh chúng tôi. Những đốm đen khắp nơi. Chỉ vài giờ sau khi đổ bộ, các giàn cao xạ hạng nặng của địch quân đã được thiết lập trên bãi biển. Tôi biết rằng các lực lượng Nhật phải mất ít nhất ba ngày sau khi đổ bộ mới thiết dựng được các vị trí phòng không. Tốc độ di chuyển chiến cụ lên bờ của quân Mỹ nhanh chóng đến mức kinh ngạc.

Tôi trở lại cao độ 7,000 bộ với ba chiến đấu cơ phía sau. Chúng tôi bay xuyên qua những đám mây, và lần đầu tiên trong suốt mấy năm chiến đấu, tôi bị một phi cơ địch vồ mà không hay biết. Bất thình lình tôi sực nghe một tiếng phụp thật mạnh và một lỗ hổng nửa phân xuất hiện trên kiếng chắn gió bên trái của tôi. Lỗ hổng chỉ cách tôi vài phân. Tôi vẫn không nhìn thấy chiếc phi cơ nào khác trên không. Có lẽ viên đạn từ mặt đất bắn lên. Sau đó, tôi mới nhìn thấy loáng thoáng một oanh tạc cơ địch, không phải một chiến đấu cơ, đang lủi vô mây. Sự liều lĩnh của viên phi công địch đáng sợ. Với một chiếc oanh tạc cơ chậm chạp, hắn dám giỡn mặt với ba chiến đấu cơ Zéro của chúng tôi.

Xem thêm:   7 ốc đảo đẹp nhất thế giới

Chớp mắt, tôi đã ở phía sau đuôi hắn. Không phải oanh tạc cơ mà là phóng pháo cơ đâm bổ. Chiếc Douglas SBD Dauntless nhô lên hụp xuống nhiều lần rồi thình lình chui vô một đám mây. Ðâu thể để mất con mồi dễ dàng như vậy, tôi đeo dính hắn. Khoảng một vài giây, tôi chỉ thấy một màu trắng xoá khi chúng tôi lướt xuyên qua một tảng mây dày đặc. Ðám mây giống một ổ bánh kem mà chúng tôi đâm sầm vào đó. Nhiều phút trắng ngợp mờ mịt. Kế đó, chúng tôi thoát ra khoảng trống, tôi tiến sát như chớp và khai hoả. Tên xạ thủ phía sau đuôi chiếc phóng pháo cơ ngã chúi trên khẩu súng của hắn. Một loạt đại bác nữa rót vô đầu máy. Chiếc Dauntless lộn về phía trái mấy vòng, rồi chúi xuống dữ dội. Yonekawa thấy viên phi công nhảy dù ra. Ðó là sát thủ thứ sáu mươi của tôi.

Trở lên 13,000 bộ, tôi tìm kiếm những phi cơ khác của chúng tôi nhưng không thấy. Một vài phút sau, bay trên bờ biển Guadalcanal, tôi phát hiện một nhóm phi cơ bay cách phía trước mặt nhiều dặm. Tôi báo hiệu cho hai phi cơ bên cánh và lướt đến. Không lâu, tôi đếm rõ tám phi cơ địch tất cả, bay làm hai nhóm. Tôi ra dấu đánh nhóm bên phải nhường nhóm bên trái cho ba chiếc Zéro theo sau tôi. Ðối thủ bay trong một đội hình phòng vệ rất chặt chẽ, hình như là chiến đấu cơ Wildcat. Tôi có thể lướt từ dưới lên đánh tập hậu, và có thể hạ hai chiếc trong loạt khai hoả đầu tiên. Tôi tiến sát được chừng nào hay chừng nấy. Khoảng cách còn 200 thước, rồi 100 – 70 – 60 thước…


Ghi chú Quân sự

Phóng pháo cơ Douglas SBD Dauntless

Phi hành đoàn: 2

Dài: 10.08 m, Cao: 4.14 m

Trọng tải: 4,853 kg

1 động cơ 1,200 mã lực

Vận tốc tối đa: 410.38 km/h

Đường kính: 1,243 km

Trần bay: 7,780 m

2 đại liên 12 ly 7

2 đại liên 7 ly 62

1,020 kg bom

Phóng pháo cơ Grumman TBF Avenger  

Phi hành đoàn: 3 (phi công, hoa tiêu phóng ngư lôi kiêm xạ thủ súng máy bụng và xạ thủ pháo tháp đại liên)

Dài: 12.48 m , Cao: 4.7 m

Trọng tải: 8,115 kg

1 động cơ 1,900 mã lực

Tốc độ tối đa: 444 km/h

Đường kính: 1,610 km

Trần bay: 9,170 m

1 đại liên 7 ly 62 trước mũi

2 đại liên 12 ly 7 trên cánh

1 pháo tháp nòng đôi 12 ly 7

1 đại liên 7 ly 62 dưới bụng

1 thủy lôi hoặc 900 kg bom


Tôi đã lọt vô bẫy! Phi cơ địch không phải chiến đấu cơ F4F Wildcat mà là phóng pháo cơ hạng nặng. Loại Grumman TBF Avenger trang bị thủy lôi! Loại phóng pháo cơ kiên cố bọc thép dầy và võ trang tận răng mà tôi chưa từng thấy trước đây. Từ phía sau, Avenger trông giống như chiếc Wildcat, nhưng khi lại gần mới thấy kích thước bề thế đồ sộ của nó với tháp súng đôi trên lưng và dưới bụng đều trang bị đại liên 50. Giống những chiếc xe tăng trên không. Hèn chi chúng bay theo một đội hình chiến lũy như vậy. Mấy chiếc Avenger đang đợi tôi, và bây giờ tôi bị chụp ở cả hai phía bên phải và trái với 16 khẩu đại liên một lúc. Tôi gia tăng tốc lực khẩn cấp. Tôi không thể giảm tốc lực để quay lưng. Nếu tôi bỏ chạy hoặc lộn nhào tôi sẽ lãnh đạn vô bụng phơi trần tức khắc. Chỉ còn một cách, cứ lao đến và khai hoả tất cả vũ khí trong tay. Tôi ấn nút hoả lực, gần như cùng một lúc với tất cả súng của địch quân. Tiếng đại bác nện và đại liên dội lên lấn át mọi tiếng động khác. Khi hai phóng pháo cơ Avenger phựt bốc cháy, đối phương chỉ còn cách trước mặt tôi đúng hai mươi thước. Ðó là tất cả những gì sau cùng tôi nhìn thấy. Một tiếng nổ dữ dội long trời chà nát thân thể tôi. Tôi cảm thấy hai lỗ tai như bị muôn ngàn lưỡi dao chọc thủng. Vũ trụ bừng lên trong lửa đỏ. Cảnh vật rực lên, sáng lóa và rồi đôi mắt tôi như mù hẳn. (Ba phi công bay theo tôi về báo cáo với Trung tá Nakajima, chỉ huy trưởng phi đoàn, rằng họ đã nhìn thấy hai chiếc Avenger rớt xuống cùng một lúc với phi cơ của tôi. Họ còn cho biết thêm, hai chiếc Avenger địch kéo hai vệt lửa khói dài. Ðó là nạn nhân chánh thức thứ 61 và 62 của tôi. Nhưng một báo cáo khác của người Mỹ sau chiến tranh phủ nhận sự mất mát các phóng pháo cơ Avenger cất cánh từ ba hàng không mẫu hạm hoạt động ở phía Tây Nam Guadalcanal. Có lẽ hai phi cơ này đã trở về tàu được. Khi chiếc Zéro của tôi chúi xuống, với tôi hôn mê bất tỉnh trong buồng lái, cả ba chiếc Zéro cùng chúi xuống với tôi. Họ phải bỏ dở cuộc săn tìm khi tôi biến mất trong một đám mây sà thấp.)

Xem thêm:   Bảo vệ trái cây

Sau nhiều giây trôi qua tôi mới hồi tỉnh. Một luồng gió mạnh mát lạnh quất vào tôi, xuyên qua tấm kính chắn gió đã vỡ nát. Nhưng tôi vẫn còn mất cảm giác. Tôi không nhìn thấy và khó khăn suy nghĩ. Mọi vật đều mờ mờ ảo ảo. Cần điều khiển ngả nghiêng như một bánh lái trước sóng. Ðầu tôi ngoẹo hẳn về phía sau, ngoẻo trên miếng tựa đầu. Tôi cố nhìn, nhưng mọi vật lờ mờ chập chờn nhảy múa trước mắt. Phòng lái hình như đã vỡ tung, kiếng bể nát hết, gió ru tôi vào cơn mê nửa mơ nửa tỉnh. Tôi không cảm thấy gì khác hơn là một sự chìm đắm êm ả dịu dàng. Tôi muốn ngủ. Tôi cố gắng thức vì biết rằng tôi đã bị bắn trúng, rằng tôi đang hấp hối, nhưng tôi không hề cảm thấy sợ hãi. Nếu chết là như thế này, không đau đớn, thì có gì đáng lo… Tôi đang ở trong một thế giới đầy mộng mị. Một sự ngây ngất tràn đầy trong trí não. Ảo ảnh bơi lội phía trước tôi. Thấp thoáng nhiều hình ảnh từ từ sáng dần… Với sự ngạc nhiên, tôi nhìn thấy ánh mắt âu lo của Hatsuyo rồi khuôn mặt má tôi hiện ra rõ rệt. Bà kêu lên: “Xấu hổ chưa! Xấu hổ chưa! Thức dậy đi, Saburo, thức dậy đi! Con làm như đàn bà con gái không bằng. Con đâu phải là một tên hèn nhát! Thức dậy đi! Thức dậy!”.

Kỳ sau: Chương 18 (tiếp theo)

Chết Như Một Samurai

Saburo Sakai, Đông Kinh 1956

Bản Anh ngữ của Martin Caidin, New York 1956

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm, Sàigòn 1972

Trần Vũ hiệu đính theo bản Pháp văn của Robert de Marolles,

Nxb Presses de la Cité, 1957

Minh họa từ trang War Thunder