“…Chỉ là những câu chuyện vụn vặt được chắp nối qua những mảnh đời dân quê miệt kinh rạch hầu san sẻ cùng bạn trẻ, những người chưa hoặc không có dịp sống gần gũi với dân ruộng về các miền kinh rạch ấy như một nét đặc thù của văn minh Việt bên cạnh một nếp “văn minh miệt vườn” khá sung túc, trù phú…” (Hai Trầu Lương Thư Trung).
Luôn tự nhận mình là một “người nhà quê”, nhưng ai cũng hiểu là cách nói khiêm cung của một học giả, kiến thức quảng bác, như bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trìu mến nhận định “Nó là văn chương miệt vườn. Sau này muốn biết về miền Nam mưa nắng hai mùa ra sao thì phải đọc Sơn Nam và Hai Trầu thôi.”.
Mời bạn cùng chúng tôi dạo chơi cùng mưa nắng miền Nam…
(tiếp theo)
Giả tỉ được con mồi rồi, đâu phải nó nuốt một cái ực như mình trưa nắng uống một gáo nước lạnh đâu. Nào là nó phải dùng cái thân dài ngoằng của nó quấn cho con chuột thiệt chết, mình mẩy con chuột thiệt mềm, thiếu điều muốn rệu xương. Khi làm con mồi nhừ tử như vậy, nó mới bắt đầu thưởng thức. Giống như mình làm đồ nhậu vậy mà. Đâu phải hô nhậu là nhào vô nhậu liền. Rồi chú Út mầy biết hông? Con chuột chết rồi mà cái anh rắn này tánh đa nghi cứ nằm đó chờ hoài. Đến lúc bụng quá đói, sức lại kiệt, mới bắt đầu nuốt con mồi. Mà như chú rành quá trời, miệng rắn thì tum húm, con chuột bằng cườm tay, do đó mà con rắn phải trợn trắng mấy lần thiếu điều nghẹt họng. Nhưng rồi từ từ nó cũng nuốt con mồi vào bụng chương ướng như đang có chửa không bằng. Đâu phải nuốt rồi con rắn bò vội, bò vàng. Nó còn nằm đó một hồi lâu lắm mới tụt mình lết đi chỗ khác. Lại nữa, chú chắc còn nhớ loài trăn, loài rắn ăn một lần gặp những con mồi lớn như vậy, nó no có khi cả tháng. Trong vòng một tháng đó, chuột đẻ thêm biết cơ man nào mà kể.
Thành ra, nói bắt rắn gây nạn chuột nhiều cũng tội nghiệp người nghèo sống bằng cái nghề chết như chơi này! Đó là tui nói loại rắn độc, rắn lớn, chứ đâu phải rắn nào cũng ăn được chuột như mấy người ngồi trong văn phòng tưởng tượng rồi vẽ ra. Chuyện rắn này dài lắm chú, nói hoài mệt nghỉ, chứ không hết được. Để bữa nào rảnh gặp lại chú, anh em mình trải chiếu dưới gốc xoài lai rai vài xị với món rắn bông súng xào lá lốt, tui kể chú Ba mày nghe chơi.
Còn đổ thừa người ta ăn thịt mèo quá mạng nên chuột hoành hành. Thiệt tình, mấy ông nhà báo lâu lâu tạt qua rồi nghe người ta nói mà nói theo cho vui, làm tui bắt tức cười. Mèo là loài ở trong nhà, ngủ ngày không ai bằng, ỉa cứt chôn trên bồ lúa hay vùi dưới tro trên cà ràng. Ăn thì có sẵn cơm nguội. Lâu lâu làm siêng, mấy cái chàng mèo ngủ ngày này đi rình mò mấy chú chuột lắt là dữ lắm rồi. Nhiều lúc bắt rồi giỡn mồi cho vui vậy chứ ăn uống gì. Điểm này tui muốn nói với chú, là đời thuở nào mèo mà bắt chuột đồng. Chỉ có chó mới đi theo mình đào chuột, giậm cù. Nên nói rằng mèo mà tiếp tay diệt chuột đồng, nghe nó tức ấm ách chú à! Mình nhiều lúc nhà quê, nhà mùa, cả năm chưa ra chợ một lần, nên ai nói gì oan ưng cũng chịu, không chối cãi được. Chẳng hạn, nguyên kinh xáng Bốn Tổng mình có mấy nhà nuôi mèo, có mấy người ăn thịt mèo. Chú còn nhớ không, vùng mình là vùng nhiều người tu hiền mà. Thiếu gì cá mắm, vật ăn. Ai đời đi ăn thịt mèo làm gì. Mà thịt mèo nghe nói ăn cũng xui xẻo nữa đó chú. Nên nếu có dịp, tui xin mời mấy ông nhà báo xuống kinh xáng Bốn Tổng này đốt đuốc cả ngày tìm đỏ con mắt cũng không thấy một người ăn thịt mèo, chứ đừng ngồi trên Sài Gòn mà tán rộng…
Chú Út bầy trẻ,
Nói ba cái vụ mèo, chuột, rắn nghe bắt mệt. Nhưng nhờ vậy mà cũng đỡ nhớ chú cùng sắp nhỏ. Để hôm nào tui biểu thằng Ếch bắt bậy mớ lươn vàng, rồi tui nhắn chú về chơi, anh em mình lai rai một bữa với món lươn um nước cốt dừa đặng anh em mình tâm tình cho đã nghe chú. Chú cho tui gửi lời thăm thím Út cùng sắp nhỏ. Chú nói với mấy đứa nhỏ, bác Hai căn dặn ráng mà học hành, giữ gìn lễ nghĩa, đừng để mất cái gốc ruộng nương để khi trở về miệt kinh xáng Bốn Tổng thăm chơi mình thấy mình vẫn là mình, chòm xóm vừa mừng vừa khen dòng tộc mình nghe chú!
Anh Hai của chú,
Hai Trầu
Đá banh
Kinh xáng Bốn Tổng, ngày 5 tháng 7 năm 1998
Chú Ba bầy trẻ,
Lâu quá rồi tui không có viết thơ từ gì gửi qua cho chú. Chắc chú cũng trông. Chú có biết tại sao không? Để anh Hai của chú giãi bày vài hàng cho chú hiểu cái bụng của anh lúc nào cũng không quên em út.
Trước nhất, năm nay là năm nhuần, nhuần hai tháng Năm âm lịch mà, nên nắng hạn quá mạng. Nước sông, nước rạch cạn queo, nên nước trên đồng cũng khô rang, khô khốc. Lúa thóc cháy đọt, bụi nào bụi nấy tóp rọp thấy phát rầu. Rồi tui cũng buồn lo mà quên viết thơ cho chú. Lại nữa, bây giờ tui già rồi, chữ nghĩa lâu quá mà không xài, nó cũng đi chơi đâu mất. Mỗi lần cầm cây viết ngồi bên chong đèn dầu lửa đỏ, khói đèn mù mịt, định viết cho chú vài hàng thăm nom, mấy ngón tay chai cứng nó cũng làm eo không chịu viết thành chữ, thành câu cho suôn sẻ theo mấy cái ý lộn xộn của mình.
Thêm vào đó là cái nạn mê coi đá banh ở bên Tây nữa đó chú. Dưới quê mình, gần cả tháng trời nay đứa nào, đứa nấy thức muốn lòi con mắt ếch vì mấy trận đá banh. Bốn năm mới có một lần mà! Ở chỗ chú đang ở chắc chú cũng có coi mấy hội banh quốc tế đá kỳ này? Hồi chú còn ở nhà, tui nhớ chú cũng mê đá banh dữ lắm mà. Tui thấy chú mua báo thể thao nhiều lắm. Tiền thôi là tiền! Thà ăn cơm với nước mắm kho khô, kho quẹt chứ không có ba cái báo đá banh là chú buồn nhiều lúc muốn đổ quạu. Suốt ngày ở ngoài đồng với ba cái lúa, mưa nắng trắng lưng, nhưng hễ về đến nhà nuốt ba hột cơm là tui thấy chú nằm võng đọc báo.
Hồi đó, tui nhớ chú kể nào là Pê-Lê, Phan-Cao, Di-Cô của hội banh nước Ba Tây; nào là thằng gôn Su-Ma-Khơ của hội banh nước Đức đá vô mình cái thằng a-de của nước Pháp; nào là Pao-Lô-Rốt-Si nổi tiếng đá vô nhiều trái nhất kỳ đá ở cái xứ Tây-Ban-Nha hồi năm nẳm. Rồi chú cũng kể cho bà con nghe cái nước Ặc-Giăng-Ti-Na gì gì có một thằng số 10 đá hay quá là hay, nhưng có một lần đá lấy cúp, túng quá nó dùng luôn bàn tay đẩy trái banh vô gôn tuốt luốt. Trái banh me mà trọng tài không thấy. Chuyện cũng có hên xui may rủi nhưng thiệt tình là khó lường trước được khi cái lòng ham giựt cúp nó xúi người ta phải giành cho bằng được.
Hồi đó, tui thấy chú cắt hình các cầu thủ dán đầy vách nhà, thấy mà mê. Mà sao kỳ quá chú, mấy người đá banh dù hay cách mấy nhưng bà con vẫn không gọi bằng ông này, ông kia, mà lại gọi gọn lỏn thằng này, thằng nọ. Tuy vậy, chứ tui coi bộ gọi bằng thằng nhưng dân ghiền đá banh như anh em mình thương mến mấy người đá hay mà chơi đẹp dữ lắm. Coi vậy chứ, mình dù dân quê thì quê, chớ công bằng lắm chú. Tay nào đá hay, đá giỏi mà chơi xấu, cứ nhằm vô giò người ta mà phang hoài, mình không chịu nghe chú. Đá hay mà phải đá đẹp nữa mới thiệt là phục.
Để tui kể sơ sơ cho chú nghe chơi cái cảnh coi đá banh cọp ở kinh xáng mình, nhiều lúc ngồi buồn nghĩ mà tức cười muốn bể cái bụng. Ban ngày ngủ gần chết. Nửa đêm chó sủa dậy xóm. Ba cái đuốc lá dừa cháy rực trời. Chú biết người ta đốt đuốc đi đâu không? Không phải đi bắt cóc, bắt nhái, mà đi coi đá banh ở nhà ông Tám gần cái cầu khỉ qua vàm Ba Bần. Cả xóm mình chỉ có nhà ông Tám là có cái truyền hình nghĩa địa màu mà ổng mua hồi tháng rồi. Đâu cũng ba triệu mấy gì đó. Ông bán hết gần cả trăm giạ lúa chứ phải chơi. Lại nữa, nhờ lúa năm nay cũng mắc, có lúc lúa lên giá tới bốn mươi tám ngàn một giạ. Chú còn nhớ một giạ bao nhiêu lít không? Nếu đong đừng giựt thùng, gạt cho bằng mặt, mỗi giạ như vậy là bốn chục lít. Còn lúa vê cho thiệt sạch, mỗi giạ hai chục ký-lô gờ-ram. Sao tui đọc mấy chữ Tây này lẹo lưỡi quá chú, mà lỡ viết có trật chú đừng cười nhe, nhất là tên của mấy tay đá banh tui nghe ba trật ba vuột nên viết đại ra theo kiểu nghe lóm, chú ráng mà đọc giùm.
Ở kinh xáng Bốn Tổng mình coi quê mùa vậy chứ cũng chịu chơi lắm nghe chú. Đêm nào như đêm nào, ông Tám cũng sai con dâu út nấu nước trà châm cho quạu để bà con uống đặng mà thức sáng đêm. Tụi tui người mua cốm ngào đường, người mua kẹo bánh tráng, bánh in để góp vô uống nước trà. Đặc biệt đêm nào ông Tám cũng sai dâu con của ông nấu một nồi cháo trắng, loại nồi số 10, để cho dân mê đá banh ăn cho đỡ xót ruột. Mấy đứa trong xóm cắm câu được con cá trê, cá lóc cũng đem lại hùn vô cho xôm tụ. Mỗi đêm hai trận, coi mê quá là mê.
Kỳ này nhiều nước quá hả chú? Nghe đâu tới ba mươi hai nước lận. Những hội banh này là những hội cũng có cựa không hà. Nhưng có một cái này tui nói để rồi chú nghĩ coi có đúng không: Gần hơn hai mươi ngày, những hội banh yếu yếu rụng như sung rụng. Cho nên có hội lỡ khóc, lỡ cười; có hội khóc thiệt như cái hội banh nước Tây- Ban- Nha làm tui cũng tiếc giùm. Bữa đó nó ăn tới năm sáu trái mà rồi cũng khóc vì luật giang hồ: “Ăn mà không ăn.” Mấy bữa trước hai cái hội Ăng-Lê với hội Ặc-Giăng-Ti-Na cũng làm tui hú vía. Còn hội banh nước Hòa-Lan cũng vậy. Cái thằng gì số 10 đó chú, tới phút chót nó đá trái banh như trời giáng, làm tui muốn đứng tim. Tui mê hội banh này quá chú. Hồi trước tui thương thằng Ghu-Lít mang số 10, tóc quăn đen thui, bây giờ không thấy nó đá nữa chú. Tiếc hùi hụi! Đá banh này dùng sức, nên hơi yếu yếu là người ta không cần nữa! Thế mới thiệt là đời!!!
Chú Ba bầy trẻ,
Hôm qua tui cũng tiếc cái hội banh nước Ý. Giỏi vậy mà bị hội banh nước Tây hạ nhào lăn. Thôi vậy cũng được chú à. Vì Tây nó là chủ nhà, nên nước Ý muốn chơi “đẹp”. Còn cái hội banh nước Ba-Tây, tui mê nó từ đầu mùa tới giờ, vậy mà nó làm mình muốn lên ruột. Mới vô hai phút, hàng a-de của nó khơi khơi để cho nước Đan-Mạch cho vô một trái ngon ơ! À mà nghe nói cái xứ Đan-Mạch sương mù dữ lắm hả chú?
Hồi năm nào chú kể, cái dân Ba-Tây mê banh hơn mê cơm. Có năm tranh cúp như năm này mà Pê-Lê không theo hội banh, kỳ đó nước này thua, dân ghiền banh nổi sùng rồi phá nhà Pê-Lê tan hoang. Đá banh này là cái nghiệp. Mà nghiệp thì không tránh được cái họa. Tui có lần thưa với ông Yết-Ma trụ trì Chùa Tân Phước Tự là “gieo nghiệp nào gặt quả nấy”. Ông Yết Ma khen tui biết sợ nghiệp quả. Hồi chú còn ở nhà, chú còn nhớ hội banh của cái nước Cô-Lom-Bia không, kỳ đá ở Mỹ? Có một thằng a-de có tên gì để tui nhớ coi, à, Ếch-Cô-Ba gì đó, lỡ sạt cái chân đỡ trái banh của hội Mỹ, chạy tuốt vô gôn nhà. Vậy mà rồi khi về nước lại bị bắn chết vì làm thua trái banh đó. “Sanh nghề tử nghiệp” mà. Thiệt là đáng thương cho một người xấu số! Cái gì hễ mê quá đâm ra tối! Mê ăn thua quá rồi làm càn, chết oan một mạng người!
Còn hai hội banh hồi hôm, nếu ai mà quăng bắt ăn thua chắc cũng phải chọn, đó là hội banh hai nước Đức và Ặc-Giăng-Ti-Na. Hai hội này giỏi có tiếng mà cũng đành thúc thủ trước những trái banh như tên xẹt, đành xách gói về nhà.
Chú Ba bầy trẻ,
Đá banh này giống như cá dưới đìa. Khi đồng cạn, cá gom xuống đìa coi bộ rần rần, rồ rộ, lên móng như cơm sôi nhưng chưa chắc cá lớn nhiều hay chỉ toàn là cá rằm, cá rô, cá sặt. Tui nhớ ông bà mình hồi còn sống có dạy: “Cạn đìa mới biết lóc, trê; còn ụp móng, biết đâu rô, sặt.” Sao mà đúng quá chú! Ba mươi hai hội banh của ba mươi hai nước giờ còn lại có bốn nước. Bốn hội banh này tui ưng nhứt cái hội Ba-Tây, có cái thằng số 9, nó hiền mà chơi đẹp. Tui khoái cái tánh nhẫn nhục của nó đó chú. Ai chơi xấu, đau giò quá, nó chỉ nhăn mặt mà chịu trận. Ít khi nào tui thấy nó đá vô giò ai để trả thù. Chơi banh chứ đâu phải đấu võ đài phải không chú? Tinh thần thể thao mà, phải nhẫn nhịn lấy tài mà chọi với tài người ta mới vừa bụng chứ.
(còn tiếp)