Cách nay trăm năm, các đại phú hộ miền Nam giàu có cỡ nào? Và có ai gọi là tỷ phú như ngày nay, khi người mới giàu có thường bị gán mác “đại gia” vô tội vạ!

Ngôi nhà của Tổng đốc Phương (Đỗ Hữu Phương) tại Chợ Lớn, người xếp hạng thứ 2 trong “Tứ đại phú hộ” Sài Gòn (Nguồn: Manhhaiflickr)
Cái sự giàu có ở Nam Kỳ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh không những có thiệt mà còn kinh khủng hơn trong truyện. Ông bà mình xưa có câu “Tiền muôn bạc vạn” chỉ sự giàu sang phú quý của những nhà “giàu nứt vách đổ tường”. Bạc vạn là từ 10,000, bạc muôn là trên 100,000 đồng. Đồng tiền xưa có giá lắm, năm 1925, một mẫu ruộng tốt ở Nam Kỳ có giá 50 đồng, có khi 80 đồng. Được xếp loại “đại điền chủ” thì gia đình đó phải có 50 mẫu ruộng trở lên, vị chi 50 mẫu điền x 50 đồng = 2,500 đồng bạc, hoặc 80 x 50 = 4,000 đồng bạc là gia tài của một đại điền chủ thấp nhứt.
Năm 1930, Nam Kỳ có cả thảy 6,690 đại điền chủ có từ 50 mẫu đất trở lên. Coi truyện Hồ Biểu Chánh ta thấy chưa có ông đại điền chủ nào có tiền mặt trong nhà quá 40,000 đồng. Trong tiểu thuyết “Con Nhà Giàu” ta thấy cha mẹ cậu Tư – một đại điền chủ có 500 mẫu điền, chết để lại có 25,000 đồng trong tủ.
Hồi xưa tiền có giá, chưa có danh từ tỷ phú như bây giờ, chỉ triệu phú là hết mức. So sánh thêm, ta lướt qua một vài chi tiết tiền lương mỗi tháng của những người gọi là công chức và dân lao động để biết tiền bạc ngày xưa có giá cỡ nào.
Trong Con Nhà Nghèo cậu Ba Cam đi làm Sốp Phơ (Chauffeur) cho Thầy Kiện (luật sư) một tháng đã có 40 đồng Đông Dương coi như là phủ phê lắm rồi vì ở dưới Gò Công thằng Cu đi làm mướn chủ nuôi cả năm chỉ được có ba bốn chục đồng Bạc.

Tượng ông Huyện Sỹ (Lê Phát Đạt) người giàu nhất Sài Gòn, từng tặng cháu gái Nguyễn Hữu Thị Lan 10,000 đồng Đông Dương làm của hồi môn khi gả cho vua Bảo Đại (Ảnh: Internet)
Thầy thông trong Cô Lý Cô Đào mỗi ngày làm có 1 đồng bạc, một tháng đi làm kiếm được 26 đồng mà đã nuôi được vợ con. Ngặt sau này vợ con bệnh nên thầy có ý bán chiéc xe máy giá 20 đồng lo thuốc thang cho vợ con. Nhưng thầy tiếc không bán vì chiếc xe máy kiểu Pháp thầy mua tới 40 đồng tức gần hai tháng lương của thầy. Sau này, thầy thông đi ngang qua một con đường vắng, thấy đứa con nít còn đỏ hỏn ai bỏ ven đường, thầy lượm đem về nuôi thì mới phát hiện ra 50 tờ giấy Bạc giấu trong người đứa bé. Từ đó phất lên làm giàu.
Giấy bạc 100 là tiền mệnh giá lớn nhất Đông Dương, cho nên số tiền này thuở đó là rất lớn. Nếu so sánh với bạc hiện nay, thì số tỷ vẫn chưa vừa, vì tỷ phú ngày nay có hiếm, chớ như hồi năm một ngàn chín trăm hai mươi ngoài, đầu thế kỷ hai mươi, tờ giấy xăng (100$) có người trọn đời chưa từng thấy.
Năm 1934 gia tộc nhà ông Lê Phát Đạt – ông Huyện Sỹ (ông ngoại Nam Phương Hoàng Hậu) gả Nguyễn Hữu Thị Lan về làm hoàng hậu của vua Bảo Đại. Cậu hai Lê Phát An tặng cho cháu gái 1 triệu đồng tiền mặt làm của hồi môn mang theo “dằn mặt”, hoàng gia. Một triệu đồng Đông Dương tương đương bao nhiêu lượng vàng? Một triệu đồng Đông Dương bằng 10,000 tờ giấy Xăng (tờ giấy bạc 100 đồng Đông Dương) – số tiền mua được 22,000 lượng vàng tính bằng tiền bây giờ cỡ khoảng hơn ba chục triệu Mỹ kim chứ bao nhiêu chưa kể 100 năm về trước tiền còn có giá biết chừng nào. Vậy số tiền một triệu đồng của cậu Hai Denis Lê Phát An cho bà Nam Phương lớn không thể tưởng tượng.
Chúng ta cũng không quên ông Nguyễn Hữu Hào bà Lê Thị Bính chỉ có 2 cô con gái, ngoài một triệu lận lưng khi lấy chồng, sau đó khi cha mẹ chết bà Nam Phương còn được chia một nửa gia tài của cha mẹ nữa.

Hình vẽ Bá hộ Xường (Lý Tường Quang) và phu nhân bà Nguyễn Thị Lâu trong nhà từ đường họ Lý tại Q. Tân Phú (Ảnh: Internet)
Riêng ở Sài Gòn thời bấy giờ, người ta còn biết đến nhiều triệu phú. Nhưng trong số các nhà giàu sụ đó, người đời nhớ nhất với câu thành ngữ: Nhất Sỹ nhì Phương Tam Xường Tứ Bổn.
Nhất Sỹ (tên thật Lê Phát Đạt hay còn gọi là Huyện Sỹ) là đại phú hào đứng đầu “tứ đại phú hộ” Sài Gòn xưa và là ông ngoại của Nam Phương Hoàng hậu. Tuy xuất thân bình thường, nhưng nhờ tài trí và tầm nhìn xa, ông đã nhanh chóng tích lũy khối tài sản khổng lồ.
Sau thời gian du học Malaysia, ông trở về nước và mua lại ruộng đất bị bỏ hoang, đầu tư vào trồng lúa. Liên tiếp các vụ mùa bội thu đã giúp ông mở rộng quy mô đất đai, trở thành chủ sở hữu những cánh đồng “cò bay mỏi cánh” từ Gò Công, Long An, Tiền Giang đến biên giới Campuchia và dần trở thành một trong 4 người giàu nhất Sài Gòn.
Dù sở hữu khối tài sản khổng lồ, gia đình Huyện Sỹ nổi tiếng với lối sống tiết kiệm, giản dị. Ông còn tự nguyện hiến đất và 1/7 tài sản để xây dựng nhà thờ Huyện Sỹ trên đường Tôn Thất Tùng, Quận 1. Đây thực sự là một công trình văn hóa tôn giáo mang dấu ấn lịch sử. Sự giàu có và lòng nhân ái của đại gia giàu nhất Sài Gòn xưa – Huyện Sỹ đã khiến tên tuổi ông vượt xa cả vua Bảo Đại, trở thành biểu tượng của sự thành công và cống hiến trong lịch sử Sài Gòn xưa.
Người thứ hai là Tổng đốc Phương. Ông tên thật là Đỗ Hữu Phương (1844-1914), do được Pháp phong Tổng đốc hàm nên còn gọi là Tổng đốc Phương. Đất đai và nhà cửa của ông có rất nhiều tại Chợ Lớn và Long An. Ông sinh tại Chợ Đũi (Sài Gòn), gốc người Minh Hương, biết chữ Hán, nói được một số tiếng Pháp. Sau khi Pháp đánh chiếm Gia Định, ông hợp tác với người Pháp vây bắt một số thủ lĩnh quân nổi dậy chống Pháp như Trương Quyền, Phan Tôn, Phan Liêm, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân. Năm 1872, ông được Thống đốc Nam Kỳ chỉ định làm hội viên Hội đồng thành phố Chợ Lớn. Ông là một trong những người đề xướng và đã bỏ tiền ra xây trường Collège de Jeunes filles Indigènes vào năm 1915, tức trường Nữ Trung học Sài Gòn, mà người dân thường gọi là trường Áo Tím, sau này là trường Gia Long.

Khách sạn Majestic đầu tiên tại Sài Gòn nhìn ra Bến Bạch Đằng của chú Hoả (Hui Bon Hoa) (Nguồn: Manhhaiflickr)
Đứng hạng ba là ông Lý Tường Quang còn gọi Bá hộ Xường (1842-1896), tự là Phước Trai, gốc Hoa. Theo một số ghi chép, ông là người Minh Hương (Hoa Kiều trung thành với nhà Minh) chống lại nhà Thanh nên đến lánh nạn ở miền Nam Việt Nam. Ông trở thành thông ngôn cho Pháp nhờ thông thạo cả tiếng Hoa lẫn tiếng Pháp, nhưng sau đó ông nổi chí muốn làm ăn, buôn bán kinh doanh. Ông có người vợ Việt, tên là Nguyễn Thị Lâu.
Rời bỏ vai công chức “quèn”, Bá hộ Xường dốc tâm sức vào việc kinh doanh thịt cá xuất cảng, lương thực, thực phẩm, sau đó mua đất xây cất biệt thự tại vùng Chợ Lớn để cho thuê và bán. Ngoài ra cũng nhờ biết cách đi cửa sau, lấy lòng quan Tây, quan ta, ông giàu lên rất nhanh, nổi tiếng khắp vùng. Ngày nay, vẫn tồn tại hàng loạt kiến trúc đồ sộ khang trang. Đặc biệt phải kể đến dinh thự rất bề thế của gia đình Bá hộ Xường (ngày nay là từ đường họ Lý, tọa lạc trên đường Hải Thượng Lãn Ông).
Thứ tư là chú Hỏa (tên thật Hứa Bổn Hòa, 1845 – 1901) là đại phú hộ gốc Hoa. Khác với nhiều lời đồn về việc giàu lên nhờ mua bán ve chai hay nhặt được kho báu. Thành công của chú Hỏa đến từ óc kinh doanh nhạy bén và tầm nhìn xa trông rộng. Nhận thấy tiềm năng của vùng đất hoang phế xung quanh khu vực Bến Thành, người giàu nhất Sài Gòn – Tứ Hỏa quyết đoán san lấp ao hồ để xây dựng chợ mới và sở hữu đến 20,000 nền nhà tại khu đất này. Sau đó, ông cho xây dựng nhà phố và cho thuê, từ đó tạo dựng nên khối tài sản bất động sản khổng lồ.
Với hơn 40% bất động sản tại Sài Gòn và khoảng 30,000 căn nhà ở các vị trí đắc địa, chú Hỏa không chỉ làm giàu cho bản thân mà còn có những đóng góp lớn cho xã hội. Ông đã dành nhiều tâm sức và tài sản để xây dựng hàng loạt công trình phúc lợi xã hội vẫn còn tồn tại đến nay như xây dựng Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Đa khoa Sài Gòn, Trường THCS Minh Đức (Quận 1),…
TN