Vụ án các phù thủy ở thành phố Salem là một loạt các phiên tòa xét xử nhiều người bị buộc tội làm phù thủy ở Massachusetts thời thuộc địa giữa tháng 2-1692 tới tháng 5-1693. Hơn 200 người đã bị buộc tội. 30 người bị kết án; 19 người bị treo cổ, trong đó có 14 phụ nữ. Một người khác là Giles Corey bị đè cho tới chết vì từ chối cáo trạng và ít nhất 5 người chết trong tù.

Thành phố Salem, Massachusetts. Photo. hdv

Những cuộc bắt bớ xảy ra tại Salem và nhiều thị trấn ngoài Salem, đáng chú ý là vùng Andover và Topsfield. Bồi thẩm đoàn và các phiên xét xử tội phạm này được tiến hành do Tòa Oyer và Terminer năm 1692, Tối Cao Pháp Viện năm 1693; cả 2 đều ở thị trấn Salem, nơi thực hiện cuộc hành hình treo cổ. Ðây là vụ án có nhiều phù thủy chết nhất trong lịch sử Bắc Mỹ thời thuộc địa.

“Phù thủy” là vụ án nổi tiếng của thời Mỹ thuộc địa. Sau này, nó được dùng trong các cuộc hùng biện chính trị, được đưa vào văn học như một cảnh báo sống động về chủ nghĩa cô lập, chủ nghĩa tín ngưỡng cực đoan và cả cáo buộc sai và lầm lẫn khi xét xử.

Làng Phù Thủy ở Salem. Photo. hdv

Năm 1992, kỷ niệm 300 năm, tưởng nhớ các nạn nhân của vụ án, một công viên và đài tưởng niệm đã được xây dựng ở Danver. Tháng 11-2001, một điều luật được cơ quan Lập pháp Massachusetts thông qua đã miễn tội cho 5 người, trước đó đã miễn tội cho 6 nạn nhân khác. Ngoài ra, năm 1957 đã có một người được tha tội.

Ðáng chú ý là hầu hết các “phù thủy” còn là vị thành niên, trong đó có nhiều cô bé còn rất nhỏ.

Phòng triển lãm kinh dị. Photo. hdv

Tháng 2-1692 tại làng Salem, Elizabeth Parris (9 tuổi) và người chị họ Abigail Williams (11 tuổi), con gái và cháu gái của mục sư Samuel Parris thường xuyên lên cơn động kinh. Một bác sĩ kết luận rằng, hai đứa bé đang chịu ảnh hưởng của ma thuật phù thủy, được mô tả là “có những phản ứng vượt quá mức của bệnh động kinh hoặc bệnh sốt bình thường” theo lời ông John Hale, mục sư của thị trấn Beverly kế bên, cho biết. Các cô la hét, ném đồ khắp phòng, gầm gừ những âm thanh lạ, bò dưới bàn ghế và uốn mình trong tư thế kỳ dị, theo lời kể của nhân chứng Reverend Deodat Lawson, cựu mục sư ở làng Salem. Các cô thì than phiền vì bị đè và chích kim vô người. Tuy nhiên, bác sĩ William Griggs nói đã không tìm thấy vết tích nào của việc này. Mấy cô gái trẻ khác trong làng bắt đầu biểu hiện những hành động tương tự. Buổi thuyết giảng của Lawson tại nhà hội của làng Salem bị gián đoạn nhiều lần do các người này gây ra.

Tượng phù thủy ở công viên Salem. Photo. hdv

Những người đầu tiên bị buộc tội và bắt giữ là Betty Parris, Abigail Williams, Ann Putnam Jr, 12 tuổi, Elizabeth Hubbard, Sarah Good, Sarah Osborne và Tituba. Một số sử gia tin rằng lời buộc tội Ann Putnam, Jr. xuất phát từ sự ác cảm với gia đình này, là nguyên do chính của các phiên tòa xử phù thủy. Bấy giờ, sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa hai gia đình  Putnam và Porter đã làm phân hóa những người ở Salem. Dân chúng thường có các cuộc tranh luận kịch liệt, gia tăng mức độ chống nhau chỉ vì chính kiến của mình.

Xem thêm:   Saint Paul tu viện đầu tiên ở Sài Gòn

Good là một phụ nữ nghèo bị buộc tội phù thủy vì việc làm của mình. Tại phiên tòa, cô bị buộc tội từ chối ý tưởng tự chủ và kỷ luật đạo Thanh giáo khi cô chọn đánh đòn và coi thường trẻ em thay vì hướng dẫn chúng đến con đường cứu rỗi.

Bảo tàng Phù Thủy Salem. Photo. hdv

Sarah Osborne hiếm khi tham gia các cuộc họp của nhà thờ. Cô bị vu là phù thủy vì các người Thanh giáo cho rằng Osborne có lòng tin riêng sau khi tái giá với một người hầu. Các công dân của thị trấn không tán thành khi cô kiểm soát quyền thừa kế của con trai người chồng trước.

Tituba, một phụ nữ da đỏ Nam Mỹ bị buộc tội chỉ vì cô khác chủng tộc với các người trong làng. Cô bị buộc tội lôi cuốn các cô gái như Abigail Williams, Betty Parris với những chuyện bùa chú mê hoặc của phù thủy. Các câu chuyện quan hệ tình dục với quỷ, khuyến dụ đàn ông, bói toán đã làm các cô thích thú và khiến cho Tituba bị buộc tội phù thủy.

Nơi xử tội các Phù Thủy Photo. hdv

Những phụ nữ này bị ruồng bỏ và bị xem như một nghi phạm cho các cáo buộc phù thủy. Họ phải tự bào chữa trước quan tòa địa phương vì những khiếu nại phù thủy. Họ đã bị tra hỏi nhiều ngày từ 1-3-1692, và bị tống giam.

Xem thêm:   Kim Chung một thời vang bóng

Vào tháng 3/1692, Martha Corey, con của Dorothy Good ở làng Salem; y tá Rebecca và Rachel Clinton ở tỉnh Ipswich kế bên bị kết tội là phù thủy. Martha Corey đã thể hiện sự hoài nghi về chuyện mấy cô gái bị vu là phù thủy, vì vậy đã làm cho chính quyền chú ý. Các cáo buộc chống lại cô và y tá Rebecca đã tạo rắc rối cho cộng đồng vì Martha Corey là thành viên chính thức của nhà thờ tại làng Salem, giống như y tá Rebecca cũng thuộc họ nhà thờ của thị trấn Salem.

Các phiến đá nơi Phù Thủy ngồi khi xét xử. Photo. hdv

Tòa Án Oyer và Terminer nhóm họp vào cuối tháng 5, đưa ra xét xử 62 người bị bắt trong vụ án phù thủy Salem. Phiên tòa đã tuyên treo cổ các phù thủy: Bridget Bishop, Rebecca nurse, Sarah Good, Elizabeth Howe, Susannah Martin, Sarah Wildes, George Burroughs, George Jacobs, Sr. Martha Carrier, John Proctor, John Willard, Martha Corey, Mary Eastey, Mary Parker. Alice Parker, Ann Pudeator, Wilmot Redd, Margaret Scott, Samuel Wardwell Sr. Riêng Giles Corey bị xử đè cho đến chết.

Phiến đá có khắc tên Phù Thủy. Photo. hdv

Năm 1992, Ủy ban 300 năm của Danver đã thuyết phục Hạ viện Massachusetts ban hành Nghị quyết tôn vinh các người đã chết. Sau những nỗ lực của Paula Keene, một giáo viên ở Salem; J. Michael Ruane, Paul Tirone và các người khác đã đưa một dự luật rằng, những nạn nhân chưa có tên sẽ được bổ sung vào danh sách.

Một phiến đá có tên Phù Thủy khác. Photo. hdv

Dự luật được Thống đốc Jane Swift ký ngày 31-10-2001, hơn 300 năm sau, cuối cùng tất cả nạn nhân đã được tuyên bố vô tội.

Xem thêm:   Hướng tới vòng loại World Cup 2022

Hằng năm, vào dịp Halloween, Salem lại nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Vì nơi đây được mệnh danh là “thủ phủ Halloween của thế giới”. Tới Salem vào dịp này, du khách có thể thực sự cảm nhận được bầu không khí huyền bí, như lạc vào thế giới phù thủy, ma quỷ mà chỉ có ở Salem.

Sau tường đá là nghĩa địa chôn các Phù Thủy. Photo. hdv

HĐV