Sau phỏng vấn cựu đại tá Hoàng Cơ Lân nguyên giám đốc trường Quân y VNCH của báo Pháp “Guerres & Histoire” số tháng 2-2024, tuần san Trẻ giới thiệu đến bạn đọc một chương hồi ký của vị đại tá đã làm y sĩ trưởng lâu năm nhất của sư đoàn Dù (1965-1970). Tuy đã 92 tuổi nhưng đại tá Hoàng Cơ Lân vẫn minh mẫn và giữ nguyên ký ức lồng lộng của những ngày còn là tân khóa sinh thực tập các saut nhảy dù. Vị đại tá cũng cho biết Nhảy dù đã từng có một lời nguyện…

[Trần Vũ]

Trần Vũ dịch thuật

Tiếng chuông báo hiệu reo vang, hai tay vịn cửa đẩy người tung ra khỏi máy bay, một làn gió mạnh thổi vào mặt và cảm giác như bị cuốn trong một cơn gió lốc, rồi người bị giật thẳng lên và sau vài cái đong đưa, dù mở lớn từ từ đưa ta xuống đất giữa sự im lặng của không gian. Ai đã từng qua những giây phút này mới hiểu được cái cảm giác đặc biệt nó làm cho người lính Nhảy Dù không hoàn toàn giống những người khác. Cho đến ngày hôm nay, tôi chưa bao giờ hối hận đã chọn binh chủng danh tiếng này cách đây hơn 40 năm, và đã được đội mũ đỏ phục vụ 13 năm trời thật là huy hoàng. Hồi còn là sinh viên Y khoa, luật lệ Trường Quân Y cho phép những ai đã học được hai khóa quân sự căn bản tại Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt được đi học để lấy bằng Nhảy Dù. Cho nên một buổi đẹp trời cuối niên học 1955, tôi đã đến trình diện tại căn cứ Nhảy Dù Bà Quẹo (sau này trở thành Bộ Tư lệnh Sư đoàn Nhảy dù VNCH). Ông đại tá Pháp, chỉ huy trưởng căn cứ, ngực đeo đầy huy chương, duyệt xét toán chúng tôi và nhìn mỗi người với đôi mắt đăm đăm dưới hai hàng lông mày rậm rạp. Trả lời một câu hỏi của ông, tôi đã thưa: “Oui, mon colonel”, và bèn được ông ta chỉnh lại: trong Nhảy Dù, chúng tôi không thích chữ Oui (tạm dịch là vâng) vì nó không hiên ngang, anh phải trả lời bằng câu “Bien, mon colonel”, chứng tỏ là anh đã hiểu và thông suốt lệnh vừa ban ra. Ngay phút tiếp xúc đầu tiên đó, tinh thần đặc biệt của binh chủng đã được bộc lộ, và khi về doanh trại, một dòng chữ viết trên tường làm cho chúng tôi hiểu là chúng tôi không đăng vào một binh chủng bình thường mà tình nguyện gia nhập một tổ chức quân sự đặc biệt: “Quân nhân Nhảy Dù, anh phải làm quen với gian khổ vì nghiệp của anh là phải hy sinh” (Parachutiste, tu dois apprendre à souffrir car tu es fait pour mourir). Sau này, trong những năm sống chung với những chiến hữu mũ đỏ, tôi luôn luôn tìm thấy nơi họ tinh thần mạo hiểm, thích chiến đấu và coi thường cái chết của tuổi đôi mươi.

Thật vậy, tuổi trẻ thích được hướng dẫn và chỉ huy, nhiều người và nhiều cấp lãnh đạo đã nhầm lớn khi chỉ biết mang những bánh vẽ như tiền bạc và thụ hưởng để nói chuyện với thanh thiếu niên. Sau 2 tuần huấn luyện hành xác, đến ngày đi Nhảy thật sự. Hồi đó máy bay vận tải toàn là C47 Dakota, có chiếc thân và cánh còn sơn đen vì đã tham dự những phi vụ đêm trên chiến trường Điện Biên Phủ. Phi hành đoàn gồm Pháp và Việt, riêng cá nhân tôi thì hồi hộp và lo sợ hết chỗ nói! Dù đeo lưng trong những năm đó đều là loại dù T7, kiểu đã có từ Đệ nhị Thế chiến. Những loại dù như TAP 660 của Pháp và T10 của Mỹ, an toàn hơn và êm hơn, chỉ được sử dụng kể từ 1961-1962.

Lính Việt của Tiểu đoàn 2 Nhảy dù Lê dương (2e BEP   

Với kiểu T7, lá dù được kéo ra trước và mở tung bởi sức gió của cánh quạt máy bay. Các bạn hãy tưởng tượng: sau khi rớt độ 30 thước như một cục đá, sức nặng của người bạn lên khoảng 150 đến 200 ký lô, dù bọc và giật ngược bạn lên, mắt bạn nổ đom đóm, và nếu đai dù không được siết đàng hoàng thì ngực và vai sẽ tím bầm. Một sự cải tiến khá lớn đã được thực hiện với những loại TAP 660 và T10: khi nhảy, dây dù được kéo ra trước và lá dù chỉ mở ra sau, bởi sức nặng của người nhảy chứ không phải vì gió máy bay thổi. Cho nên loại dù này ít bị cụp hơn là loại T7; nhảy với một độ cao 400 thước, mình chỉ còn vài giây đồng hồ để mở dù bụng nếu dù lưng không mở… Dù T7 hồi đó nguy hiểm hơn thật: trong thời kỳ vàng son của dù này (trước 1961-1962), kinh nghiệm bản thân cho biết là mỗi khi một tiểu đoàn (500 người) nhảy hành quân, luôn luôn có một người chết vì dù không mở. Khi nhảy saut đầu, tôi không may bị gió thổi ngang khi chạm đất và bị gẫy bàn chân phải, tôi buồn và thất vọng muốn khóc lên được …

Xem thêm:   Loanh quanh, vụn vặt

Hai tháng sau, tức 3 tuần bó bột và một tháng nghỉ ngơi, tôi trở lại Trung Tâm Bà Quẹo. Lần này tôi được sát nhập vào một toán (stick) 22 binh sĩ, đa số là lính Đức thuộc Tiểu đoàn 2 Nhảy Dù Lê Dương (2è Bataillon Étranger de Parachutistes) [1], đơn vị này đã tham dự trận Điện Biên Phủ và đang được tân lập trước khi lên đường về Algérie. Vì là sĩ quan duy nhất trong toán (tôi mang lon thiếu úy), tôi có nhiệm vụ bắt mấy anh này hát sau khi máy bay cất cánh, kiểm điểm họ sau khi xuống đất rồi cùng đi về nơi tập họp. Tôi còn nhớ trong máy bay, thường thường tiếng hát nhỏ dần khi chúng tôi biết là sắp đến lúc nhảy và tắt hẳn trong cuống họng khi huấn luyện viên hét: “Debout! Accrochez!” (Đứng lên! Móc dây!). Vì là trưởng toán, tôi đứng lấy thế ở cửa máy bay và có được thời giờ ngắm bãi nhảy với quả khói được đốt lên để giúp huấn luyện viên  biết chiều gió. Như vậy tôi luôn luôn nhảy đầu và không phải chứng kiến cảnh đau lòng đôi khi xảy ra khi một khóa sinh tới cửa máy bay khựng lại và huấn luyện viên phải dùng biện pháp mạnh là đá đít ra ngoài… Vận xui tiếp tục theo đuổi tôi trong khóa thứ hai này vì đến lần nhảy thứ 4 thì một khóa sinh tử nạn. Lúc đó toán của tôi đã an toàn đáp xuống đất, tôi đang kiểm điểm và tập họp mấy anh Lê Dương thì đợt máy bay thứ hai bắt đầu thả: chúng tôi thấy ngay một người bị dù đuôi nheo không mở. Tất cả mọi người đều nhìn lên anh ta và la hét: “Dù bụng, dù bụng, mở dù bụng!..” Xong anh này tiếp tục giẫy giụa và rớt như cục đá. Ngay lập tức một huấn luyện viên hô to: “Garde à vous!” (Nghiêm chào!). Một tục lệ của binh chủng Nhảy Dù khi xảy ra trường hợp tương tự và chúng tôi đã đều đứng nghiêm để chào anh bạn đang lao vào cõi chết. Chỉ vài giây sau đã có tiếng gọi: “Bác sĩ! Bác sĩ đâu?” Thật quả tôi đâu đã là bác sĩ và dầu có là bác sĩ chính hiệu đi nữa, thì hỏi lúc này làm được cái gì? Tuy nhiên, chân tay bủn rủn, tôi cùng một anh Lê Dương (có lẽ bạo nhất trong bọn) đã đến gói cái xác mềm nhũn với lá dù đẫm máu của anh ta.

Ngày hôm sau, tất cả chúng tôi đi dự đám táng kẻ đồng đội xấu số và sang ngày kế tiếp chương trình nhảy dù tiếp tục. Lần này với sự có mặt của ông đại tá chỉ huy trưởng và một số sĩ quan trong căn cứ. Muốn cho chắc ăn, trong mỗi máy bay một nữ quân nhân gấp dù được đặt ngồi ngay cửa để kích thích tinh thần anh em. Bữa đó ai cũng hát rất hay và nhảy đúng theo sách vở! Đôi khi sự can đảm cũng chỉ là một vấn đề tự ái… Với bằng dù mới toanh đeo trên ngực, tôi hãnh diện đưa vị hôn thê của tôi vào Câu Lạc Bộ Sĩ Quan (Cercle Militaire) thời đó ở đường Norodom (sau này là đường Thống Nhất, cũng như Câu Lạc Bộ này sẽ là Bộ Tư Pháp của chính phủ VNCH).

Với sự bồng bột của tuổi trẻ, tôi có cảm tưởng là các sĩ quan bộ binh trong phòng ăn đều nhìn tôi bằng con mắt kính phục! Kể từ giờ phút đó tôi nhất quyết sẽ là y sĩ nhảy dù khi học xong đại học y khoa. Năm 1957 chỉ có một mình tôi tình nguyện, phục vụ với đơn vị khét tiếng đánh đấm này chưa có gì là hấp dẫn lắm đối với các y sĩ tân khoa thời đó vì trước tôi mới có 3 bác sĩ người Việt có bằng dù. Tuy nhiên trường hợp nào cũng phải có lúc ban đầu và đến năm 1965, Sư đoàn Nhảy dù của QLVNCH đã có trên dưới 20 bác sĩ tình nguyện. Tôi đã thấy lại ngay tinh thần mũ đỏ khi đáo nhậm Liên đoàn Nhảy dù hồi đó, gồm có 4 tiểu đoàn tác chiến và 1 tiểu đoàn trợ chiến mà Quân đội Liên hiệp Pháp vừa để lại. Tôi có thể ví tinh thần đó như tinh thần của những người thuộc một quân phái chứ không phải một quân đội thường, những người đã phải vượt qua nhiều cuộc thử thách cam go mới được thâu nhận. Quân phái hay đoàn thể đó có lối sống riêng với tục lệ và ngôn ngữ riêng biệt đã đuợc hun đúc với thời gian. Ví dụ, lính nhảy dù Mỹ khi nhận lệnh, luôn luôn trả lời “All the way, Sir!” nghĩa là lệnh đó sẽ được thi hành tới cùng và bằng mọi giá. Lính nhảy dù Pháp sẽ không dùng chữ “Oui” hoặc “Non” để trả lời cấp trên, mà thay bằng hai chữ “Affirmatif!” hoặc “Négatif!”; một chỉ thị lúc nào cũng phải được thông suốt 5 trên 5; trong trường hợp bị nguy khốn (lúc bát phố hay đi hành quân) anh nhảy dù Pháp sẽ hô “Ventral!” (mở dù bụng !) chứ không kêu cứu như bần dân thiên hạ!… Với các chiến hữu nhảy dù Việt Nam, kỷ luật thép và tinh thần đoàn kết huynh đệ chi binh luôn luôn được nêu cao trong mọi trường hợp.

Xem thêm:   Họa sĩ... "Vandal"

Mỗi người chúng tôi đều biết là nếu có chết hay bị thương, sẽ không bao giờ bị đồng đội bỏ rơi. Sự tin tưởng tuyệt đối mà binh sĩ mũ đỏ đặt nơi người bác sĩ bắt buộc chúng tôi luôn luôn cố gắng để khỏi phụ lòng họ, vì vậy không bao giờ một tiểu đoàn Nhảy Dù xuất trận mà không có y sĩ đi theo. Đôi lúc, vì lý do này nọ thiếu bác sĩ, chúng tôi luân phiên đi hành quân cả mấy tháng mà không về thăm nhà.Trong những lúc mệt nhọc căng thẳng này, khẩu hiệu “Nhảy Dù Cố Gắng!” thật đầy ý nghĩa! Mỗi người chúng tôi đều biết rằng, trên thực tế chúng tôi phải luôn luôn đóng góp hơn các binh chủng khác. Binh sĩ của Sư Đoàn Dù đều tâm niệm là sự can đảm và lòng hy sinh cố hữu của họ sẽ giúp họ tấn công chiếm những mục tiêu cực kỳ khó khăn, chống giữ những cứ điểm trên nguyên tắc không thể giữ nổi. Họ cũng biết là khi hữu sự, họ sẽ phải hy sinh khi xung quanh đã tan hàng (sự chống trả tuyệt vọng của họ trong mấy ngày cuối tháng 4-1975 là một thí dụ điển hình).

Lời thề nguyện sau đây của binh sĩ Nhảy Dù Pháp có thể là câu tâm niệm của binh sĩ Nhảy Dù Việt Nam mà không sợ bị sai nghĩa: “Xin Chúa hãy cho chúng tôi những gì còn sót lại, xin Chúa hãy dành cho chúng tôi những thử thách mà không ai ham muốn!” (Donnez-nous, mon Dieu, ce qui vous reste, donnez-nous ce que l’on ne vous demande jamais!). Từ 40 năm nay, những cựu quân nhân nhảy dù của miền Nam tự do phải sống lưu đày trên khắp 5 Châu, vẫn tiếp tục duy trì tinh thần binh chủng thể hiện bằng một sự đoàn kết trước sau như một. Sự đoàn kết của những kẻ đã một thời mang cùng một đai dù, mặc cùng một quân phục, và vì vậy mỗi người như mang nặng trên vai danh dự của cả một tập thể. Sau hết, nếu không sợ người đời chê là kiêu ngạo, đó là sự đoàn kết và hãnh diện của những kẻ đã nhảy, so với số đông những người đã bình chân như vại dưới đất liền./.

Y sĩ đại tá Hoàng Cơ Lân, cựu y sĩ trưởng SĐND/QLVNCH,  Juillet 2017

Xem thêm:   Hang gấu

Lời Nguyện của Thiên thần Mũ đỏ

Vì sao thánh Michel là thánh bảo mệnh của Nhảy dù? Vì sao gọi lính Nhảy dù là Thiên thần mũ đỏ? Lời nguyện của binh chủng phát xuất từ đâu?

Thánh Michel là thánh bổn mạng của binh chủng vì là Tổng lãnh thiên thần, một thiên lôi xuống từ trời để đánh quỷ dữ. Thành lập tháng 4-1937 tại Reims, binh chủng Nhảy dù phôi thai của quân đội Pháp bao gộp duy nhất hai tiểu đoàn 601e GIA và 602e GIA, danh xưng Tiểu đoàn Bộ binh Không trung (Groupe d’Infanterie de l’Air). Sau đầu hàng Đức, giải thể tháng 7-1940. Tân lập trên đất Anh, trực thuộc Special Air Service (SAS) của Liên Hiệp Anh và mang huy hiệu hình thánh Michel. Từ 1949, thánh Michel chính thức là thánh bổn mạng của Nhảy dù.

Trên chiến trường Bắc-Phi, Lữ đoàn SAS Pháp quốc Tự do (Brigade SAS des Forces Francaises Libres) tham chiến trên đất Ai Cập, cùng Liên quân Anh ngăn tấn công của Quân đoàn Châu Phi  Đức Quốc Xã Afrika Korps của thống chế Erwin Rommel. Chuẩn úy André Zirnheld, nguyên giáo sư Triết dạy tại trường trung học Carnot ở Tunis, phục vụ ở Đại đội 1 Săn giặc Nhảy dù (1ère CCP: Compagnie de Chasseurs Parachutistes) là một đơn vị biệt kích commandos. André Zirnheld tử trận ngày 27 tháng 7-1942 tại Sidi Haneish. Khi chôn cất, các đồng đội tìm thấy trong quân trang của Zirnheld một tập nhật ký chép tay bài thơ:

Tôi khẩn cầu Ngài, Thiên Chúa

Bởi vì Ngài ban cho con người

Những gì chỉ có thể nhận được từ chính mình.

Xin hãy cho tôi, những gì Ngài còn lại,

Hãy cho thứ mà chưa ai xin.

Tôi không xin an vị

Cũng không xin sự yên tĩnh,

Không cho linh hồn, cũng không cho thể xác.

Tôi không xin sự giàu có,

Thậm chí thành công hay sức khỏe.

Tất cả những điều này, người ta đã xin Ngài nhiều rồi,

Khiến Ngài không còn dư thừa nữa!

Hãy cho tôi, những gì Ngài còn sót lại,

Những gì người đời không muốn xin.

Tôi muốn sự bất an và lo lắng

Tôi muốn bão tố và muốn chiến đấu,

Hãy cho tôi, vĩnh viễn.

Rằng tôi sở đắc những điều này mãi mãi

Bởi vì không phải lúc nào tôi cũng đủ nghị lực

Để khẩn cầu Ngài.

Xin hãy cho tôi, những gì Chúa còn lại,

Những gì người khác không muốn,

Nhưng cũng hãy cho tôi lòng can đảm,

Và sức mạnh và niềm tin.

Bởi vì Ngài là người duy nhất ban phát

Những gì con người chỉ có thể nhận được từ chính mình.

Je m’adresse à vous, mon Dieu

Car vous donnez

Ce qu’on ne peut obtenir que de soi.

Donnez-moi, mon Dieu, ce qui vous reste,

Donnez-moi ce qu’on ne vous demande jamais.

Je ne vous demande pas le repos

Ni la tranquillité,

Ni celle de l’âme, ni celle du corps.

Je ne vous demande pas la richesse,

Ni le succès, ni même la santé.

Tout ca, mon Dieu, on vous le demande tellement,

Que vous ne devez plus en avoir !

Donnez-moi, mon Dieu, ce qui vous reste,

Donnez-moi, ce que l’on vous refuse.

Je veux l’insécurité et l’inquiétude

Je veux la tourmente et la bagarre,

Et que vous me les donniez, mon Dieu,

Définitivement.

Que je sois sur de les avoir toujours

Car je n’aurai pas toujours le courage

De vous les demander.

Donnez-moi, mon Dieu, ce qui vous reste,

Donnez-moi ce dont les autres ne veulent pas,

Mais donnez-moi aussi le courage,

Et la force et la foi.

Car vous êtes seul à donner

Ce qu’on ne peut obtenir que de soi.

André Zirnheld, 1938

Bài thơ không tựa nhanh chóng được truyền tụng và trở thành Lời nguyện của lính Nhảy dù (La Prière du Para). Nhảy dù VNCH giữ lại lối gọi Thiên thần mũ đỏ (Les Anges gardiens aux bérets rouges) nhưng Lời nguyện thay thế bằng phương châm “Nhảy dù cố gắng!”

Dưới chính thể Đệ Nhất Cộng Hòa đã diễn ra lễ hủy huy chương và huy hiệu cấp bậc của quân đội Pháp. Từ đây các sĩ quan không còn mang lon 1 gạch vàng cho chức thiếu úy, 2 gạch vàng cho chức trung úy, 3 gạch cho đại úy, 4 gạch là thiếu tá, 5 gạch là trung tá v.v.. mà thay bằng các bông mai vàng và bạc. Quân lực VNCH chính thức tách rời khỏi quân đội Pháp.

Trần Vũ tổng hợp và dịch thuật