Chân Phương là bút danh của Phương Kiến Khánh. Sinh năm 1951 tại Nam Vang, Cambốt. Hồi hương về Việt Nam Tháng Bảy, 1970. Ông học Đại học Văn khoa Sài Gòn (Licencié-ès-Lettres 1973) & Lesley University, Cambridge – USA (Master of Education 1992). Ông sống và dạy học ở Boston, tiểu bang Massachusetts, U.S.A.

Ngoài thơ, còn viết truyện ngắn, biên khảo văn học và dịch thuật – đặc biệt thi ca hiện đại Âu-Mỹ.

– Có thơ đăng trên các tạp chí nước ngoài: Văn Học, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Việt, Diễn Đàn (Paris,) VietNam Forum (Đại học Yale,) Illuminations (Đại học Charleston,) Tribuna (Romania…) Chân Phương qua đời ngày 6 Tháng Năm, 2020.

Chân Phương sinh thời rất quý bạn bè. Anh sưu tầm nhiều chân dung văn nghệ trong đó có Nh Tay Ngàn chúng tôi ghi lại sau đây. NGUYỄN & BẠN HỮU

CHÂN PHƯƠNG

Ðầu thập niên 90 lúc mới dọn về ở Cambridge (Boston) tôi rất siêng lui tới thư viện Harvard-Yenching để sưu tầm thơ văn miền Nam trước 1975 trong mớ báo chí Sàigòn cũ. Tình cờ một hôm khi lục lọi mấy chồng bán nguyệt san VĂN, giữa vô số những câu vần điệu phần nhiều là lục bát tôi khám phá một bài thơ tự do của Nh. Tay Ngàn đăng trong VĂN số 25 (15-2-1965). Vừa bàng hoàng vừa thú vị tôi chép ngay vào sổ tay bài  Đơn khúc của Liễu với tâm trạng của kẻ đang khát bỗng được uống từng ngụm suối mát. Đó cũng là lần đầu tôi hạnh ngộ với sáng tác của thi sĩ này. Cái bút hiệu nửa mộc mạc nửa bí ẩn kia trở thành dấu hỏi ám ảnh tôi. Nh. Tay Ngàn, người là ai? Đang lưu lạc góc trời nào? Còn sống hay đã…?

Xem thêm:   Tiền thưởng Tết Bích Ngọ

Tôi dò hỏi trong đám bạn hữu văn nghệ và ít lâu sau có người gửi cho tờ Quê Mẹ, (Xuân Canh Ngọ 1990), trong đó có nhiều trang văn xuôi Nh. Tay Ngàn và một tùy bút-tự sự của Phạm Công Thiện thuật lại cuộc gặp gỡ của họ ở Paris “trong thời gian cả hai đều nghèo đói và chỉ biết sống hết mình với thơ văn nghệ thuật; cả hai thường lang thang suốt đêm trên những đường phố Paris, lúc nào có chút ít tiền thì la cà ngày đêm trong những quán café ở Montparnasse hoặc ở Montmartre. Cả hai đều say sưa viết, mộng và mơ bất tận. …Có lúc dắt nhau ra bờ sông Seine, thòng mấy chai rượu đỏ xuống nước sông, uống rượu say lướt khướt, ngâm thơ Lý Bạch và Nguyễn Du, đọc thơ Apollinaire ngay nơi chỗ ở xưa của thi nhân, ngó những cụm mây trắng ngập ngừng trên tháp chuông nhà nguyện Saint Germain-des-Prés, ngồi quán café ở Montparnasse vui cười ngó nhìn Jean-Paul Sartre dẫn cô đầm trẻ tóc vàng bước qua vỉa hè. …”

Nh. Tay Ngàn  

Rất có thể Đơn khúc của Liễu cũng như một số ít bài thơ khác đăng trên báo VĂN vài năm sau đó đã được tác giả sáng tác trong thời gian nói trên vì chúng mang khá đậm không khí của thơ hiện đại Paris, đặc biệt là chất trữ tình bình dân Prévert và âm vang thời gian siêu hình Apollinaire như mấy câu sau:

Ba giờ trưa  một khúc nhạc sầu

Un jour sans toi

                   

Liễu ơi Liễu

Un jour sans toi

 

tiếng hát cuối cùng nhỏ xuống

gạch ngói hoang tàn hồn anh

Nh. Tay Ngàn qua nét bút Đinh Cường

Dù chưa tìm ra tài liệu hay nhân chứng nào để hỏi cho biết ngày sinh tháng đẻ tôi đoán rằng thi sĩ lúc ấy khoảng 23-25 tuổi, cái thuở thanh xuân tràn trề hoài bão của chàng sinh viên VN say mê văn nghệ lại được đặt chân lên thánh địa của thơ văn quốc tế.  Bị ma lực của thủ đô ánh sáng réo mời, tâm hồn tài hoa nhưng non bản lĩnh ấy đã hóa làm thiêu thân…” Nh. Tay Ngàn bỏ học kỹ sư không gian ở Paris, sống nghèo đói cả chục năm hoang liêu, suốt ngày chỉ làm thơ và chẳng bận tâm xuất bản. Rất ít nói và khiêm tốn, không bao giờ tự nhận là thi sĩ, dù đã làm cả ngàn bài thơ tuyệt diệu.…Nh. Tay Ngàn… dám sống cho tới nơi trọn cả nỗi đời nghệ sĩ hiu quạnh, từ chối đời sống khoa cử trường ốc, …,vợ con, việc làm, nhà cửa ấm êm, cô độc đói rét lao cả thân mệnh mình vào thơ, và chỉ biết có thơ và thơ mà thôi.” Người Pháp có hai chữ POÈTE MAUDIT ngắn gọn để tôn vinh những kẻ chấp nhận mọi nguyền rủa của đời đổi lấy sự thủy chung với Nàng Thơ. Hơn cả Hàn Mặc Tử, Bùi Giáng… còn có thân nhân, đồng bào khi hoạn nạn, Nh. Tay Ngàn hoàn toàn tứ cố vô thân ở Pháp trong những năm tháng túng thiếu, nghiện ngập, lao phổi, điên khùng… Không hiểu những bóng hình phụ nữ (gái Việt, đầm Pháp, đàn bà Tây Ban Nha) trong những trang bản thảo của ông có an ủi, khỏa lấp được chút nào niềm tuyệt vọng và ám ảnh hư vô chủ nghĩa đã thấm vào máu thịt nhà thơ?

Xem thêm:   Hôn nhân & những gập ghềnh

Rồi mùa thu rủ tôi đi xa

Tôi đi xa mãi tôi rồi

Nhằm đêm hoa rụng như ánh trăng

Tan mù mù trên miệt hải ngạn …

Ánh trăng không thành như cơn huyễn mộng

của tôi và Liên hôm nay

Một mùa thu trước Liên xa

Không còn gì nhớ lại nữa đâu

Những hàng sao im nguyên ngày ấy

của con đường Trà Vinh sớm hôm

Không còn gì ru nhớ làm chi …

 

Mười hai năm thành điệu gió mùa

Thổi lưu lạc mỗi hôm mù mắt

Trên hình bóng Liên xa và xa

Như hiện thân tôi trôi và trôi

 

Mãi mãi với muôn ngàn ánh sao giá lạnh

Nỗi Liên đen tối vô cùng

Nhà văn Chân Phương

Cũng nhờ bài viết nói trên của PCT tôi biết được hung tin trễ tràng: “Nh. Tay Ngàn đã chết từ lâu … chết lúc mới ngoài ba mươi tuổi, tự tử. Người ta tung cửa phòng anh và biết rằng anh đã chết bốn năm ngày. Ông bạn thi sĩ ở G. đã khổ công lắm mới tìm được cả ngàn trang văn thơ của Nh. Tay Ngàn. Cả một sự nghiệp thi văn vĩ đại hãy còn quạnh hiu đâu đó mà chưa có ai hay biết..”

Vài đoạn trích trong bài giới thiệu sơ lược này dĩ nhiên không thể đại diện cho sự nghiệp sáng tác của người quá cố . Hy vọng giới yêu thơ VN sẽ hợp tác để khôi phục lại tác phẩm, đặc biệt là thơ, của Nh. Tay Ngàn; đồng thời bổ túc cho một chương văn học sử VN hiện đại do những nhà thơ Việt từng sinh sống ở Pháp như Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Trần Hồng Châu, Nh. Tay Ngàn… tạo dựng nên và đang đứng trước nguy cơ bị phủ nhận hay quên lãng.

Xem thêm:   Viên kim cương xanh

CP