Nhớ nhạc sĩ Bắc Sơn
Giáo sư Trương Văn Khuê (25.12.1931-23.02.2005) dạy môn quốc văn, công dân giáo dục, âm nhạc ở các trường công trung học công lập và tư thục được thuyên chuyển từ tỉnh lẻ lên Sài-Gòn. Ông được khán giả biết đến tên tuổi trên lãnh vực văn nghệ nhiều hơn là một nhà mô phạm. Ông viết nhạc, biên soạn các vở thoại kịch và tham gia diễn xuất với nghệ danh Bắc Sơn.
Nhắc đến nhạc sĩ Bắc Sơn, giới thưởng ngoạn thường nhớ đến những bài hát ca ngợi quê hương, nơi có ruộng lúa bờ ao với những câu hò ngọt lịm như tánh tình người dân miền Nam thiệt thà, chơn chất. Âm nhạc của Bắc Sơn là hình ảnh của miền đất hiền hòa êm ả, có rặng tre đầu ngõ, có bụi chuối sau hè, có dòng sông lượn lờ uốn khúc. Nghe nhạc Bắc Sơn chợt thấy lòng nôn nao như tháng Chạp mong chờ ngày tết đến hay xuyến xao về nơi chôn nhau, cắt rún để rồi dạ lòng cứ bồi hồi thương ba, nhớ má và bâng khuâng tiếc nuối một thuở ấu thơ nơi miền quê ngập nắng đã trở thành dĩ vãng xa mờ.
Ca khúc đầu tay của nhạc sĩ Bắc Sơn được sáng tác năm 1955 là “Dòng Đồng-Nai” do danh ca Anh Ngọc trình bày trên đài phát thanh Sài-Gòn vào cuối thập niên 50 và những nhạc phẩm tiếp theo như “Sóng vỗ bờ xa”, “Tình người ra biển”, “Nắng lên cho đẹp” v.v… Lần thực hiện vở thoại kịch “Bếp lửa ấm” trong chương trình “Quê ngoại” ở đài truyền hình Sài-Gòn vào năm 1974, do cảm tác từ bài thơ “Trường ca rau đắng đất” của thi sĩ Nguyệt Lãng viết năm 1972, ông đã sáng tác nhạc phẩm “Còn thương rau đắng mọc sau hè” dành cho phần nhạc nền (soundtrack) với giọng hát của “ca sĩ” sinh viên Cao Trường. Nữ ca sĩ Hoàng Oanh cũng thâu thanh và phát hành bài hát này trong lần thực hiện cuốn băng chủ đề “Rừng xưa” vào cuối năm 1974.

Nhạc sĩ Bắc Sơn
Thuở sinh thời, nhạc sĩ Bắc Sơn và nhà thơ Nguyệt Lãng là hai người bạn vong niên và có mối giao tình văn nghệ thắm thiết. Chiến cuộc dâng cao, bài hát “Còn thương rau đắng mọc sau hè” dạt dào nghĩa tình nhưng dù được nghe chưa dứt bản mà đã sớm chiều loãng tan theo khói súng cũng như tiếng đại bác đêm đêm dội về phố thị.
Tháng Tư năm 1975, cơn lốc thời cuộc đã gây ra thảm cảnh chia ly, xẻ đàn tan nghé nhưng người ra đi không chỉ lìa quê mà còn xa xứ, dạt trôi đến những bến bờ xa lạ. Ở một nơi cách xa quê nhà vạn dặm, dù mưa thu hay nắng hạ, dù bình minh rạng rỡ hay hoàng hôn xế bóng, lòng người ly hương vẫn thấy ngậm ngùi như cá nhớ nguồn xưa, như chim nhớ lá rừng và chợt thèm tô canh rau đắng. Từ đáy trái tim hay từ trong cõi nhớ, lời ca dạt dào của bài hát năm xưa cứ âm thầm vọng lại …
“Nắng hạ đi, mây trôi lang thang cho hạ buồn
Coi khói đốt đồng, để ngậm ngùi chim nhớ lá rừng
Ai biết mẹ buồn vui, khi mẹ kêu cậu tới gần
Biểu cậu ngồi, mẹ nhổ tóc sâu, hai chị em tóc bạc như nhau”

Cuốn băng nhạc chủ đề “Rừng xưa” với tiếng hát Hoàng Oanh, 1974
Tô canh rau đắng nấu cua đồng ngọt lịm như tâm tình của má đã nuôi con khôn lớn, nên người. Lòng tham con người đã chia rẽ cội nguồn và cắt chia tình mẫu tử. Nước mất, nhà tan, con xa lìa cha mẹ như đờn đứt dây tơ. Thời gian gội màu tóc phai phôi, tuổi già của má cũng gầy hao theo ngày tháng. Má không còn đủ hơi sức để chờ đợi đứa con xa. Khế rụng vươn vãi bờ ao, bông bưởi thơm tho vẫn còn rơi trắng sân nhà mà má đã khép mắt. Má thôi không còn hờn trách nữa, bao năm rồi sao Út chưa lần ghé về thăm và dù mưa nắng bao mùa vẫn mịt mờ như bóng chim tăm cá …
“Ai cách xa cội nguồn, ngồi một mình nhớ lũy tre xanh
Dạo quanh khung trời kỷ niệm, chợt thèm rau đắng nấu canh”
Ước mơ được làm mây bay muôn phương và ghé thăm nhà, thăm má giờ đây đã trở nên vời vợi, xa xôi khi quê hương còn lầm than, tơi tả. Nơi đất khách quê người, thời gian bềnh bồng trôi và quê nhà cứ xa xôi hun hút. Mây trắng bay qua bầu trời xanh thẳm, tóc mình rồi cũng trắng màu mây.
TV








