“…Chỉ là những câu chuyện vụn vặt được chắp nối qua những mảnh đời dân quê miệt kinh rạch hầu san sẻ cùng bạn trẻ, những người chưa hoặc không có dịp sống gần gũi với dân ruộng về các miền kinh rạch ấy như một nét đặc thù của văn minh Việt bên cạnh một nếp “văn minh miệt vườn” khá sung túc, trù phú…” (Hai Trầu Lương Thư Trung).

Luôn tự nhận mình là một “người nhà quê”, nhưng ai cũng hiểu là cách nói khiêm cung của một học giả, kiến thức quảng bác, như bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trìu mến nhận định “Nó là văn chương miệt vườn. Sau này muốn biết về miền Nam mưa nắng hai mùa ra sao thì phải đọc Sơn Nam và Hai Trầu thôi.”.

Mời bạn cùng chúng tôi dạo chơi cùng mưa nắng miền Nam…

(tiếp theo)

Mấy cậu mình xúm xít nhau đào lỗ trên đìa Bèo đem trâu chết lên đó chôn ráo trọi; ngay tới bộ da trâu, ngoại cũng không cho mấy cậu lột da vì nhớ ơn chúng đã giúp mình khai mở đất lâm thành đồng thành ruộng.

Bây giờ, trâu bò ít có người nuôi, thời đại văn minh cơ giới hóa mà, làm gì còn Tết trâu, Tết bò nữa đâu chú, nên nhiều cái tục lệ Tết cũng theo đó mà bay biến theo đời hết rồi!

À mà này, năm nay Tết Ất Dậu, tui có lò mò đọc đâu được  mấy chữ trên báo Xuân của sắp nhỏ in ra trên “nét” trên “niếc” gì đó chú Út, nói về “mẹ gà con vịt”, tui thấy nó chưa được  trúng lắm, nên tiện đây nhắc lại để chú nhớ lại chút ít ba cái vụ gà vịt hồi đời xưa ở kinh xáng mình.

Số là như vầy, trong các loại gia cầm, loài gà vịt là giống được ở gần nhà nông mình nhất. Nhà nào cũng có năm ba bầy gà, một bầy vịt để phòng khi có khách khứa, đám tiệc như giỗ chạp, cưới hỏi mà tiện dụng.

Riêng về giống vịt thì có hai loại: vịt xiêm và vịt ta. Vịt xiêm là cái giống từ bên Xiêm; mình có giống chuối lá xiêm cũng lấy gốc từ bên Xiêm, tức là nước Thái Lan bây giờ, do triều cống hay do gì gì mình cũng hổng có rành cho lắm. Cái giống vịt xiêm này lại có hai loại, một loại lông màu đen và một loại lông màu xám; cả hai loại này đều đẻ trứng, rồi tự ấp trứng nở con và giữ con khít rim. Còn loại vịt ta với bộ lông màu trắng, ở kinh xáng mình gọi vậy để phân biệt với vịt xiêm. Loại vịt ta này rặt của Việt Nam mình thì có vịt cổ lùn, vịt sen, vịt cò; về sau có vài giống vịt du nhập vào đồng quê mình lớn con, đẻ nhiều, trứng lớn thì có vịt hoa anh đào của Nhựt Bổn, vịt Tàu của Trung Hoa, vịt Hungari… Nhưng cho dù là vịt cổ lùn của mình hay vịt của Nhựt, của Tàu gì thì gì chúng chỉ biết đẻ thôi chú Út à, chứ không chịu ấp trứng như vịt xiêm và cũng chẳng phải biếng nhác gì cho cam, vì cái giống gia cần này trời không phú cho cái chất làm mẹ nuôi con bao giờ. Kể ra, chúng cũng quá bất hạnh. Phải vậy hông chú Út?

Thành ra, muốn có giống vịt lớn con mà béo ngậy cái phao câu đó thì chỉ còn có nước là lựa trứng tốt có trống để nhờ vịt xiêm hoặc nhờ gà ấp mà thôi. Do vậy, mới có cảnh “mẹ gà con vịt” là vậy. Chứ không phải như tác giả Cổ Ngư trên “talawas” kể là vịt đẻ rớt trên đồng rồi lượm về cho gà ấp rồi nở con: “Được thuần hóa quá lâu, lại thêm cái tính lười nhác, bất cẩn, vịt nhà Á châu đã quên mất cách làm ổ, ấp trứng. Đàn vịt cò cứ chạy tràn đồng, vừa kiếm ăn, vừa đẻ rơi đẻ vãi. Người đi chăn phải lội ruộng nhặt trứng vịt đem về bỏ vào ổ gà. Vì lẽ đó, ta mới có câu “mẹ gà, con vịt”: gà mái ấp trứng, nở ra một bầy vịt con.”

Xem thêm:   Những bài thơ trên vách quán

Câu kết của tác giả Cổ Ngư vừa dẫn còn nhiều ẩn dụ bên trong, khó mà bàn ra lẽ cho hết chú Út à. Mình thấy chỉ là thấy cái nghĩa đen chơi vậy thôi chứ làm sao dám lạm bàn hơn thiệt cho được. Cái biết của mình chỉ là cái biết hình, biết dạng mà không biết số, biết mạng nó ẩn bên trong; vì thế cho nên mình chỉ biết vịt ta, còn gọi là vịt đẻ, dù đẻ không ấp trứng đi chăng nữa, nếu muốn có giống vịt đó để nuôi cũng phải lót ổ bằng rơm khô cho êm, rồi còn gom lá chuối khô buộc lại làm cái lùm cho trứng đừng bị ướt, may ra trứng vịt mới không bị hư. Trời cũng phú cho loài gia cầm này chỉ đẻ ban đêm thôi nhe chú; mà lại đẻ từ nửa đêm trở về sáng lúc chùa công phu dứt hiệp chót là hết đẻ. Còn anh chị nào đẻ chưa kịp với chúng bạn là kể như thiếu ăn hoặc đèo đẹt dữ lắm rồi đó. Chị nào ráng lắm thì trên đường ra ruộng rặn thêm ra cái trứng chưa kịp cứng vỏ, thì trứng này cũng èo uột gần chết. Thành ra, trứng vịt mà đẻ rớt ngoài đồng hoặc nơi bờ kinh mé ruộng là trứng yếu, trứng thiếu chất vôi, nên chỉ có nước mang đem luộc hoặc nấu chè thôi chứ đem cho gà ấp trứng vịt sẽ thành trứng vịt ung ráo trọi.

Lượm trứng vịt đẻ rơi trên đồng – nguồn Facebook

Còn cách lựa trứng vịt giống để ấp như tác giả Hà Cẩm Tâm trên “gió-o”chỉ biểu cũng chưa đúng lắm chú Út à. Ông Hà Cẩm Tâm hướng dẫn là lấy thau nước rồi bỏ trứng vịt vô, nếu trứng nào nhúc nhích cục cựa là trứng mạnh trứng tốt. Tui nghĩ cách đó không phải sai nhưng chỉ áp dụng được sau khi trứng đã ấp được hơn mười ngày hoặc nửa tháng. Còn muốn lựa trứng lúc mới bắt đầu cho chắc ăn là trứng có trống hay không, tui thấy mấy bà nhà quê mình làm như vầy nè chú Út à. Người ta đem một rổ trứng thiệt tốt ra trước sân rồi mới cầm từ trứng đưa lên mặt trời, lấy bàn tay che lại một chút cho bớt ánh sáng chóa mắt, rồi nhìn vào cái trứng mình đang lựa, trứng nào có chấm đậm như một vệt đen đen ở bên trong lớp vỏ nơi đầu trứng, thì trứng ấy có trống, tức là trứng đó tốt và sẽ nở con; còn trứng nào không có chấm đen đó, tức là trứng không có trống, nếu mình đem cho gà hoặc vịt xiêm ấp, thì ấp cả đời cũng không nở được, lúc bấy giờ chỉ có trứng ung cho bợm nhậu như tui mà thôi.

Chú thấy hông, có mái mà không có trống trứng dù lớn cũng đành chịu chết; mà vịt ta có đẻ mà không có gà hoặc vịt xiêm ấp cũng thua luôn chứ chẳng chơi. Ngày nay thì có máy ấp, vịt đẻ nuôi hằng trăm hằng ngàn, chạy hết đồng này qua đồng khác, sáng ra trứng đẻ trắng chuồng, hốt có cả thúng gịa, dân quê mình kêu loài vịt này là vịt tàu, vịt hãng; nhưng vẫn không thể không cần “mẹ gà con vịt”, hoặc “mẹ xám con cò, mẹ đen con trắng” chú Út à! Bởi một lẽ là cái gì mà ít là có lựa chọn giống tốt  đàng hoàng chứ không như chỉ cầu cái lượng nhiều làm gì. Thành ra, vịt hãng mà hết đẻ rồi là chỉ còn nước lùa lên xe hàng chở lên Sài Gòn bán lại cho mấy chú Ba Tàu làm vịt quay trong khu Bình Tây, Đồng Khánh, La Cai  thuộc Chợ Lớn.

Xem thêm:   Lá Thư Từ Kinh Xáng 1 (kỳ 37)

Chú Út sắp nhỏ,

Sẵn bàn với chú về vụ gà vịt, rồi mới sực nhớ có ông Hồng-Huy(*) kể lại vụ nuôi gà vịt trong ống tre trên một tờ báo ở đâu bên bển hồi năm nẳm, rồi ông kết luận là “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” là bắt nguồn từ chỗ người ta nuôi gà vịt trong ống tre như vậy và tác giả lại cho rằng xưa nay người ta nghĩ nước đựng ở bầu thì tròn, đựng ở ống thì dài là không đúng. Tui mới thấy nó không chắc ăn cho lắm về cái suy luận này chú Út à.

Tui thấy không chắc ăn vì ông Hồng-Huy dẫn ra là, trên ghe đò người ta ăn ở trên ấy luôn rồi nuôi cả chó mèo gà heo, nên gà sợ nó bay nên nuôi trong ống tre có khoét lỗ cho nó ló mỏ ra ăn và thở. Trời ơi, sao tác giả có óc giàu tưởng tượng quá mạng vậy?!? Nếu sợ gà bay, sao không nuôi nó trong cái lồng hay buộc dây ở chân cho nó ở sau đít ghe chỗ gần bánh lái cho tiện mà lại nhốt nó trong ống tre làm gì mà hành xác nó quá tội nghiệp như vậy thưa tác giả?!?!? Cái vô lý là ở chỗ bắt nhốt gà vịt trong ống tre để mà nuôi. Thành ra, “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, với nghĩa đen xưa nay chỉ nói về nước thôi, chứ không nói gì khác.

Nói thế không có nghĩa là không có trường hợp nuôi gà vịt trong ống tre như tác giả Hồng Huy kể, nhưng đây là trường hợp những kẻ ác muốn tìm cảm giác lạ trong cách ăn uống. Những người ấy họ nuôi những con gà vịt theo cách này là để có miếng thịt gà mềm, thiếu chất xương vì gà vịt trong này không cử động do vậy xương không phát triển, nhưng lúc bấy giờ không phải “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” đâu; mà là một dị dạng dị hình, nhìn con gà con vịt nuôi theo cách ấy thấy ghê lắm, như một quái vật vậy, còn gì hứng thú để mà tưởng tượng món thịt gà thịt vịt này thơm ngon, cao lương mỹ vị. Nuôi gà vịt cách đó ác lắm chú Út; mà người dân quê mình ít có người ác nhơn thất đức như vậy, nói gì người nghèo sống chật chội dưới những ghe thương hồ. Nội cái vụ “chim lồng, cá chậu” thôi, nó rộng thênh thang kia mà còn bị chú Tám phản đối, nói gì lấy ống tre nhốt gà nhốt vịt trong đó mà lấy làm ngon, phải vậy hông chú Út?

Thư đầu năm, viết cho chú hơi dài, mà cứ nhắc chuyện gà vịt hoài cũng chưa hết, chẳng hạn ba cái vụ cúm gà năm nay làm Tết mất vui. Rồi còn cá biển cũng ít người ăn vì sóng thần hôm trong năm, mà cá đồng ngày mỗi hiếm, nên quanh đi quẩn lại cũng muối với gừng rồi cũng qua ba ngày Tết. Tui có lời cầu chúc chú thím mạnh giỏi, sắp nhỏ học hành tấn tới. Tui với chị hai chú thì “tóc mỗi ngày mỗi bạc”, chỉ còn cậy mong đàn em cháu sau này học hành thành tài cho tiếng kinh xáng mình bớt bị người đời chê bai là dân phèn dân ruộng muôn đời…

 

Nay thư,

Hai Trầu

(*) Bài “Thông ngữ và đặc ngữ” của Hồng Huy, Văn Học số 185, tháng 9 năm 2001

Xem thêm:   Cám ơn nước Mỹ

THAY LỜI BẠT

TRẦN DOÃN NHO

Đọc “Lá Thư Từ Kinh Xáng” của Hai Trầu

Ký ức là một tài sản vô giá của con người. Là bộ máy nhớ. Nhớ những lần hành quân. Nhớ những trận đánh. Nhớ đồng đội. Nhớ cảnh bom rơi đạn lạc. Nhớ những đau thương, đổ vỡ. Nhớ những tủi nhục tù đày. Nhớ những lao đao bon chen kiếm sống. Có người nhớ để được giận hờn chuyện cũ. Có người nhớ để quên hiện tại. Lại cũng có người nhớ để khỏi nghĩ đến… tương lai. Nhà văn Hai Trần nhớ, nhớ nhiều, nhớ chi li, đến từng chi tiết. Miên man nhớ. Nhưng nỗi nhớ của ông, trải đều qua hơn 50 lá thư trong tác phẩm “Lá Thư Từ Kinh Xáng”, có nhiều điều rất khác.

Ông nhớ cảnh: “Trăng trên lá, trên cây, trên cánh đồng nước ngập tháng Tám, trên con rạch, trên dòng sông, trên con đường làng, đâu đâu cũng là trăng…Trăng chạy, trăng vui, trăng giỡn, trăng tắm ướt cả cánh đồng mênh mông nước là nước…(…) trăng giã gạo chài ba chài bốn; trăng cút bắt; trăng ca hát trên sông…trăng quết cốm dẹp; trăng “ngồi dựa bụi môn” kiểu Lục Vân Tiên…”

Ông nhớ núi Ba Thê, núi Sập, Hang Tra, Trà Kiết, Vịnh Hanh, Mặc Cần Dưng, Xà Tón, An Bình A, An Bình B, Chắc Cà Ðao, Lấp Vò, Bồ Hút, Thủ Ô, Gia Vàm, Xà Tón, Mái Dầm, Cái Côn, Mương Khai, Cái Vồn, Vàm Ba Bần, Cái Tàu Hạ, Nha Mân, Tân Hiệp, Tân Hưng, Tân Quới…Chỉ nghe cái tên không thôi cũng khiến lòng người nao nao sông nước miền Tây.

Ông nhớ cái thú bắt chim: “Khởi đầu đi bắt chim là chống xuồng xuống đồng lớn, đi vòng vòng mấy vạt lung, vạt đất lúa dầy bịt chim trích làm ổ nhiều vô số kể. Mặc tình mà lượm trứng chim. Có hôm gặp thời may đi nhằm vạt đất le le hò hẹn dìa đó làm ổ nhiều…lượm trứng le le gà nước cả mấy khoang xuồng vậy đó” (…) Còn tháng 10, tháng 11 âm lịch mình thì chim thay lông. Chim thay lông nó gặp mình là nó bay không xa. Chỉ cất cánh lên vài ba thước là đáp xuống rồi hà (…) Ði bắt chim như vậy vui lắm, và có bữa trúng ổ được chim nhiều lắm. Chim thay lông vừa mọc lông măng, ối thôi nó béo kỳ lạ lắm.”; bắt chuột: “…chuột tháng mưa béo ơi là béo”; bắt cá: “Cá tát đìa tháng ba tháng tư cặp trứng thè lè xỏ lụi nướng trui, dù cá trê hay cá lóc gì cũng không có món nào ngon cho bằng…”; và nhiều thứ khác: “Rồi nào là mùa xoài, mùa mận, mùa ổi, mùa vú sữa, mùa dưa hấu, dưa gang, mùa dặm cù, mùa soi cá soi tôm, mùa giăng câu đặt lọp, đặt lờ, mùa bắt ếch bắt nhái, mùa cá ra sông nổi lờ đờ đầy mặt nước.”

Ông nhớ chị Hai Tân An, anh Tú Lé, anh Tư Minh, Tư Thiện, chị Hai Văn, chú Minh, anh Bảy Láng Linh, chú Bảy Luân sắp nhỏ, hai cháu Long Phụng… Những cái tên âm vang Nam Bộ.

Ông nhớ “cái tầm”, một dụng cụ đo đất, dài 2 thước 6 tấc 33 phân.  Tầm cắt dài hơn. Mỗi tầm 3 thước. Một công là 144 tầm vuông…

Ông nhớ cỏ và rau: cỏ mồm lông, cỏ mồm đắng, cỏ ống, cỏ chỉ, cỏ lông heo, cỏ gạo, cỏ chát, cỏ cú, …năn, lác, rau dừa, rau muống, rau chay, me đất, cỏ xước, nghễ…

Ông nhớ tiếng nói và cách nói của người dân Nam Bộ: “bộn” (nhiều, bề bộn), “cái mững gì” (cái quái gì), “nhiều quá mạng”, “chú thím và sắp nhỏ” (các cháu nhỏ), “đi đồng đi bái”, “sứt móng chưn” (mất móng chân), “dòm trực lại” (nhìn ngay lại), “đi dìa”(đi về), “bên bển”(ở bên đó), “mần ruộng” (làm ruộng)…

(còn tiếp)