Kỳ trước: Sáng 28 Tháng 7 những trận tiền pháo hậu xung ngất trời nhưng Pleime vẫn trơ trơ  mà địch thì chết như rạ, phải ngưng để kéo xác.  Trưa 29 Tháng 7 Đại tá Chỉ Huy trưởng BĐQ QK 2 đạp chân xuống trại thăm thuộc cấp của mình giữa tiếng phòng không của địch nổ vang.

Nhiều kỳ – kỳ 6

Tôi chạy ra sân kéo Ðại tá Tất vào hầm chỉ huy nằm trong trung tâm trại. Tôi tóm tắt cho người chỉ huy biết tình hình mấy ngày qua.

Lúc đó trong hầm hành quân còn có mặt ông Trung úy Trần Dân Chủ, sĩ quan hành quân của tiểu đoàn.

Ông Chủ xuất thân khóa 22 Thủ Ðức, tuy đeo lon trung úy nhưng thực ra còn là cấp thiếu úy. Ông ta bị gián đoạn công vụ một thời gian vì bị Cộng Quân bắt giam từ tháng 5 năm 1969 tới cuối năm 1973 mới được trao đổi tù binh.

Khi bị địch bắt ông Chủ mới mang cấp bậc thiếu úy vừa tròn một năm.

Tôi đề nghị Ðại tá Tất cố gắng hợp thức hóa cái lon trung úy cho ông Chủ để sau trận này, tôi có thể chạy lon đại úy cho ông ta. Ðại tá Tất hứa sau khi trở về Pleiku ông sẽ thỏa mãn lời yêu cầu của tôi.

Thiếu úy Mạch Thiệu Hùng ghé tai tôi nói nhỏ,

Kỳ này chắc chắn ông thầy sẽ thêm một mai bạc! Nhớ đãi tụi em một chầu nhe! Hai tháng trước có vài thằng Ðặc Công mò về Căn cứ 333, hai bên bắn nhau đì đẹt. Chỉ có mấy thằng Việt-Cộng chết mà Trường An đã đề nghị cho ông tiểu đoàn trưởng lên trung tá rồi đó!

Thiếu úy Mạch Thiệu Hùng và Thiếu úy Trần Văn Phước đều xuất thân từ Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2. Hai sĩ quan này chập chững vào chiến trận dưới bàn tay dìu dắt của Thái Sơn Vương Mộng Long. Vì thế mà gặp nhau bất cứ ở đâu họ đều gọi tôi là “Ông thầy” thay vì gọi tôi với cấp bực.

Tôi nghĩ rằng, một chiến binh, khi nhận nhiệm vụ ít người hy vọng được thăng chức lên cấp, mà chỉ mong hoàn thành trách nhiệm là mừng rồi.

Ngay cả tới cái mạng của mình mà không biết có giữ được không thì mong gì tới những thứ phù du khác.

Cứ nhìn vào chuyện xảy ra gần đây thôi. Tôi và Thiếu tá Nguyễn Ngọc Di Trưởng Phòng An-Ninh Quân-Ðội Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 cùng ra đơn vị một ngày. Ông Di lên Dak Pek, tôi vào Pleime. Nay Dak Pek đã thất thủ, Thiếu tá Di chết rồi, còn tôi thì đang bị vây.

Tôi nói với chú Hùng,

– Cứ chờ đi! Không biết anh có được lên lon hay lại theo chân ông Di cũng chưa biết chừng!

Ðại tá Tất tỏ ý muốn tôi dẫn ông đi quan sát một vòng quanh trại, nhưng tôi thấy điều này có thể gây nguy hiểm đến tánh mạng của ông nên tôi không cho ông thực hiện chuyện này.

Ông Tất nói cấp trên đã lên kế hoạch tiếp cứu Pleime rồi, ông khuyên tôi gắng kiên tâm “Tử thủ”.

Tôi không rõ Tướng Nguyễn Văn Toàn có cho ông Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 biết rằng tôi được phép rút chạy sau ba ngày cố thủ và một tuần “đánh trận giả” hay không, nên tôi chỉ trả lời ông Tất rằng tôi sẽ cố gắng.

Một giờ sau, tôi hướng dẫn chiếc trực thăng núp theo triền Bắc núi Chư Gô đáp ngay cổng Nam Pleime bốc hai thầy trò ông Ðại tá, có sáu thương binh được đi theo. Chiếc phi cơ mở hết tốc độ bay thẳng hướng Tây, bay một mạch, tít mù xa, rồi mới quẹo về hướng Phú Nhơn.

Noel 1973 Pleiku.Thiếu tá Vương Mộng Long (em rể) Chuẩn úy Đinh Văn Thọ (anh vợ) và 2 con của VML.

o O o

Công đồn đả viện …

Hầu như ba ngày đầu tôi chỉ bận rộn với chuyện gom góp quân thất lạc và chống đỡ những đợt tấn công từ hướng Bắc.

Ðêm 31 tháng 7 địch đẩy hai khẩu 75 ly không giựt lên đỉnh dốc nhắm bắn vào trại. Sau bốn năm trái 75 ly thì cái câu lạc bộ tan hoang, vách ván, mái tôn bay tung toé.

Tôi chưa gọi được điện thoại cho khẩu 105 ly cổng Bắc thì anh lính Thượng đã giựt cò bắn đi hai quả Beehive. Chắc xạ thủ của hai khẩu đội 75 ly chết hết rồi, nên không còn trái 75 ly nào bay vào nữa.

Xem thêm:   Tấm lòng người Quảng Bình

Suốt đêm 31 tháng 7 cho tới sáng 1 tháng 8 phi cơ Hỏa Long liên tục thả hỏa châu và bắn cận phòng vùng một cây số Bắc Pleime.

Tôi cũng được thông báo hai Box 1×1 km đánh bom tập trung trong vùng hướng Tây làng Plei Xome đã được một đoàn oanh tạc cơ A 37 thực hiện trong đêm qua. Những Box bom 1×1 km này có thể coi như những Box B52 Mini do Không Quân Việt-Nam mới sáng chế ra. Nếu địch tập trung đông trên một diện tích hẹp mà bị một Box này thì thiệt hại không phải là nhỏ.

Ngày 1 tháng 8 năm 1974 Trung tá Hoàng Kim Thanh thông báo cho tôi biết rằng, Trung Ðoàn 41 của Sư Ðoàn 22 Bộ Binh đang gửi Tiểu Ðoàn 3/41 vào khu vực Bắc của núi lửa.

Tôi có ba người anh vợ đều là sĩ quan, hai ông anh đầu chết rồi, ông anh thứ ba thì đang phục vụ trong Tiểu Ðoàn 3/41, nên tôi xin tần số của tiểu đoàn này để hỏi tin tức.

Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 3/41 là Thiếu tá Phan Ðình Thành, khóa 22 Ðà Lạt.

Tôi nói với Thành,

Trong đơn vị của Thành có ông anh vợ của tôi.Tên anh ấy là Ðinh Văn Thọ, cấp bậc chuẩn úy. Thành cho tôi gửi lời thăm anh ấy, nhắn với anh ấy rằng tôi vẫn bình yên.

Tôi vừa dứt lời thì Thành đã nhanh nhảu,

– Ủa! Chuẩn úy Thọ là anh vợ của niên trưởng hả? Trung đội của ông ấy đi đầu, nhưng mất liên lạc hai ngày rồi!

Sau này ông Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ tức là ông anh thứ ba của vợ tôi về nhà kể lại: Trung đội của ông ấy tổng cộng có 11 người, Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ là trung đội phó, trung đội trưởng là một chuẩn úy ra trường Thủ Ðức trước ông một khóa. Dưới quyền hai vị chuẩn úy là một ông trung sĩ và tám ông lính. Họ được lệnh mở đường tiến vào Pleime, nhưng mới rời bộ chỉ huy tiểu đoàn chưa được hai trăm mét thì đụng đầu một đơn vị địch rất đông. Trung đội này chạy lạc vào một làng Thượng đã bỏ hoang. Họ rủ nhau chui vào khu vườn cây um tùm để ẩn núp. Mấy ngày sau toán này lợi dụng đêm tối lần mò ra Quốc lộ 14 tới quận lỵ Phú Nhơn trình diện.

Sau chiến tranh, ông chuẩn úy anh vợ tôi cũng bị tù cải tạo, nhưng thời gian ở tù của ông ấy chưa tới 3 năm. Ông không đủ điều kiện đi Mỹ định cư theo diện H.O nên đành về quê Ban Mê Thuột, trồng tiêu, nuôi gà.

Nay ở tuổi gần thất thập, ông vẫn chưa quên cái lần ông ra trận đem quân vào Pleime cứu thằng em rể.

Có thể nói, thời gian từ 27 tháng 7 năm 1974 tới 10 tháng 8 năm 1974 là giai đoạn “Công đồn đả viện” của địch.

Tôi không biết các cánh quân của Trung Ðoàn 41 đi được bao xa, nhưng đoạn đường từ ngã ba làng Plei Xome tới vùng Bắc Pleime thì hoàn toàn do địch kiểm soát.

Tôi nghe nói, sau khi Trung Ðoàn 41 Bộ Binh thất bại phải rút ra ngoài, thì tiếp đó một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân đã được gửi vào vùng, nhưng đơn vị này mới qua khỏi Căn cứ 711 đã bị chặn lại.

Tôi còn biết thêm một chuyện đau lòng, đó là cái chết của ba anh viễn thám của Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2.

Toán này nhận lệnh vào thám sát lấy tin tức vùng núi lửa Chư Mréa. Khi trở về họ đã bị ngộ nhận vì họ mặc quân phục Việt-Cộng trang bị AK 47. Họ bị quân bạn bắn chết ngay ngoài vòng rào vào ngày thu quân.

Trước khi vào Pleime, tôi là “Anh Hai” của họ. Giữa năm 1971 tôi đã bay tới 12 căn cứ Biên Phòng của Quân Khu 2 tuyển dụng họ về Pleiku, đích thân huấn luyện cho họ thành những viễn thám viên lành nghề.

Tôi đã từng bốc thả họ nhiều lần để do thám các mật khu, khai thác những mục tiêu B52 vừa oanh kích, hoặc thi hành những cuộc phục kích bắt tù binh trên Ðường Mòn Hồ Chí Minh; đáng ghi nhớ nhất là lần nhảy xuống đánh mìn phá hủy cây cầu ngầm N 24 bắc qua sông Sé San.

Xem thêm:   Ai bảo lãng phí?

Ðầu năm 1974 tôi còn nhảy toán theo họ xuống vùng địch để thu thập tin tức yểm trợ cho cuộc hành quân tái chiếm căn cứ Lệ-Minh.

Lần này họ vào vùng với mục đích thám sát lộ trình dự trù cho các đơn vị sẽ vào cứu “Anh Hai” của họ, và họ đã chết một cách oan uổng.

Ðêm đó, trong một căn hầm giữa sân trại Pleime, hai cựu trưởng toán viễn thám của Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 là Binh 1 Yang và Hạ sĩ Nguyễn Ba đã thấy “Anh Hai”  rơi nước mắt.

Tiền đồn Chư Hô bị bao vây tới ngày thứ năm thì hết lương thực. Tôi không còn quân để tiếp viện và tiếp tế cho tiền đồn này, nên cho lệnh trung đội trên Chư Hô nửa đêm tụt xuống đồi, rút về cổng Nam. Ðêm 2 tháng 8 tôi cũng cho lệnh trung đội đóng trên Cao điểm 509 rút lui. Chỉ một ngày sau hai cao điểm này đã trở thành nơi đặt súng 12.7 ly và 57 ly của Cộng-Quân.

Coi như tôi không còn cánh quân nào hoạt động xa, ngoại trừ những toán tuần tra sát vòng rào Nam và Tây. Hai hướng Ðông và Bắc bị bỏ ngỏ, chỉ kiểm soát bằng hỏa lực đại liên và cối 60 ly.

Tính từ ngày đầu bị cô lập tới 10 tháng 8 đã có hơn một chục lần xung phong của địch bị đẩy lui, hàng trăm cán binh Bắc-Việt đã bị giết.

Hàng ngày, cứ chờ cho trời vừa tối, chúng tôi mới lục tục leo lên mặt đất thay quần áo và kiếm đồ ăn. Trời tối thì tiền sát viên của địch nằm trên đỉnh 509 không còn nhìn thấy doanh trại của chúng tôi nữa.

Một hôm tôi chưa thay xong bộ quần áo ướt thì được Trung sĩ Hoàn, Hạ sĩ quan Ban 3 thông báo,

– Trình Thái Sơn, có Hai Lẻ Chín muốn gặp!

Trong trung tâm hành quân có tiếng Ðại tá Từ Vấn oang oang qua loa khuếch âm,

– Thái Sơn có mặt chưa? Ðây là Hai Lẻ Chín! Trả lời!

– Thái Sơn nghe!

– Này! Tình hình hôm nay ra sao? Có còn chịu nổi không thì cho anh biết đi!

– Ðêm qua tụi nó xung phong hai ba đợt nhưng bị tụi tôi đánh văng ra ngoài! Xác tụi nó vắt đầy trên dây kẽm gai! Bangalore đã đục thủng 6 lớp rào, nhưng Hai Lẻ Chín cứ yên tâm, tôi sẽ đập bể đầu chúng nó!

(Bangalore: Ống kim loại chứa thuốc nổ dùng để phá hàng rào.)

Giọng nói của ông liên đoàn trưởng tỏ ra vô cùng lo lắng,

– Trời đất! Có sao không? Tụi nó đánh thủng 6 lớp rào rồi à! Vậy chứ Pleime có tổng cộng là bao nhiêu lớp rào?

Tôi chột dạ á khẩu! Tần số mà tôi và ông Từ Vấn đang nói chuyện là của máy PRC 25.

Thời gian này không tần số nào là không bị địch nghe lóm. Ông Vấn hỏi tôi tổng cộng có bao nhiêu lớp rào, nếu tôi trả lời ông ta, thì có khác nào tôi đã trực tiếp báo cáo cho Tư Lệnh Sư đoàn 320A rằng còn bao nhiêu lớp rào nữa thì cán binh của Ðại tá Kim Tuấn (Cộng Sản) có thể ném bộc phá vào hầm chỉ huy của tôi?

Tôi vội đánh trống lảng,

– Mưa liên miên, lạnh quá, nếu có thể được thì Hai Lẻ Chín thả cho tụi tôi vài bao thuốc lá nhé! 

– Ừ! Mấy hôm nay trời lạnh thật đấy! Ðể mai anh bay vào thả cho chú vài bao!

May quá! Ông liên đoàn trưởng quên câu hỏi Pleime có tổng cộng bao nhiêu lớp rào rồi! Chỉ có hai người biết Pleime có bao nhiêu lớp rào, đó là tôi và Ðại tá Phạm Duy Tất.

Ngày Căn cứ 711 thất thủ, địch đã lấy được sơ đồ phòng thủ Trại Pleime, trên đó có bản vẽ 6 lớp hàng rào và bãi mìn chống người do Công-Binh Hoa-Kỳ thiết trí.

Tôi giấu nhẹm chuyện này, không báo cáo với quân đoàn.

Hai ngày sau khi tái chiếm Căn cứ 711, tôi đã khẩn cấp xin Ðại tá Tất cho hai GMC chở kẽm gai cọc sắt vào Pleime.

Ðằng đẵng cả tháng trường, chúng tôi cấp tốc âm thầm thiết trí một hệ thống phòng thủ thứ nhì cho Trại Pleime, dựng thêm 6 lớp rào kẽm gai mới, gài thêm mìn bẫy, giống y hệt sơ đồ hệ thống phòng thủ cũ.

Xem thêm:   Gần dân

Ðại đội 3/82 của Thiếu úy Phạm Ðại Việt được tôi giao phó đảm trách công việc này.

Thiếu úy Việt là người chỉ huy xây dựng 6 lớp rào mới, nhưng chú Việt không biết có bao nhiêu lớp rào cũ; các quân nhân khác lại càng mù tịt về chuyện này.

Như thế là, từ tháng 6 năm 1974, quanh đồn Plei-Me, có hai hệ thống hàng rào phòng thủ; hệ thống mới nằm bên ngoài và cách hệ thống cũ một khoảng đất trống rộng hai mươi mét gài đầy mìn và lựu đạn. Nếu địch tấn công đồn này, với tin tức khai thác từ sơ đồ phòng thủ cũ, chúng sẽ bị hố nặng.

Khi hoàn tất việc rào giậu, tôi báo riêng cho Ðại tá Tất biết, và đề nghị ông kín tiếng. Biết đâu sau này địch quân sẽ đánh Pleime, chúng sẽ bị mình đánh lừa.

Quả nhiên địch đã mắc bẫy! Chúng tiến vào đồn theo đường phá của Bangalore, tới khu đất trống thì tưởng trước mặt mình, sau những bụi lau sậy là nhà cửa, lô cốt, nên nhắm mắt xung phong, đâu ngờ lại gặp 6 lớp kẽm gai nữa của hệ thống phòng thủ cũ, chúng đang ngỡ ngàng thì từng tràng đạn đại liên đã nổ giòn, khiến chúng chết đè lên nhau.

Hôm sau trời mưa. Trên trời cao là chiếc C&C của Ðại tá Từ Vấn. Vừa nghe tiếng “Bạch! Bạch! Bạch!”  trên mây, phòng không 37 ly và 12.7 ly của địch đã bắt đầu đua nhau nhả đạn.

Có tiếng ông phi công người Thượng (hay người Miên) rè rè trong máy,

– Thái Sơn chuẩn bị nhận tiếp tế! Bạn cho biết vô hướng nào an toàn nhứt?

– Vòng xa ra biên giới, vào từ hướng Tây, ra hướng Ðông! Nhớ bay sát đất!

– Okay!

Mấy phút sau, bất thình lình hai chiếc trực thăng nổ “Bình! Bình! Bình!…”  ngừng lại chừng năm hay sáu giây đồng hồ trên không, hai anh cơ phi vội vã đạp xuống mấy thùng đồ tiếp tế.

Sau đó như con cá heo lật mình, hai chiếc tàu nghiêng cánh nép sát chân Chư Gô vun vút thoát về hướng Ðông.

Khẩu 81 ly của trại vội vàng phóng đi hai quả đạn nhằm khóa họng hai khẩu 12.7 ly của địch trên tiền đồn Chư Hô. Hai khẩu phòng không này đang bắn với theo đuôi hai cái trực thăng.

Tôi gửi lời cám ơn các phi công,

– Lạc Long đây Thái Sơn! Cám ơn bạn đã liều mình vào tiếp tế!

Ðáp lại, tôi nghe, cùng với tiếng động cơ “È! È! È!”  là tiếng của ông phi công,

– Ố là la! Cám ơn gì nữa! Bị bắn què chân rồi nè!

Ðại tá Vấn còn bay trên trời, nhưng tôi không nghe ông nói gì thêm thì chắc là đoàn trực thăng đã an toàn rời vùng rồi.

Tôi vui vô cùng vì thấy chuyến tiếp tế đã hoàn tất.

Một bao đồ tiếp tế đánh sập hầm của Thiếu úy Phạm Văn Thủy. Một bao khác rơi giữa sân cờ. Nhiều bao và thùng giấy rơi trên lô cốt, vắt trên hàng rào.

Vài người lính nhào ra giành giựt nhau những đồ vật vừa được thả xuống khiến cho Trung úy Song và Thiếu úy Phước phải rút súng bắn chỉ thiên để chặn đứng tình trạng “hôi của” đang diễn ra. Ở đâu có sự đói kém, thì ở đó xuất hiện những đồ vô loại.

Hai tên vô loại bị điệu tới trước mặt tôi, tôi định sút cho mỗi đứa một cú đá, nhưng kịp ngừng. Tôi ôn tồn,

– Về chỗ đi! Ít nhiều gì thì anh em cũng phải chờ chia nhau. Chia nhau một cách đồng đều! Nghe rõ chưa?

Chúng tôi moi tung những bao tải vừa thả xuống, chỉ có những thùng đạn M16, M 60, điện trì, gạo sấy, cá khô, và mìn Claymore; tuyệt nhiên không có hai thứ cần thiết là rượu cồn, bông băng và cũng chẳng tìm thấy bao thuốc lá nào cả. Hình như hai thùng lớn đựng đồ nhẹ đã bay ra khỏi rào rơi trên bờ suối Lé.

(xem tiếp kỳ tới)