LGT: “Chuyến hành quân cuối năm” coi như món quà Xuân nho nhỏ của một cựu chiến binh VNCH gửi tới Quê Hương, Đồng Bào, Chiến Hữu và bạn Đồng Minh một thời.

(tiếp theo)
Ngày 26 tháng Chạp: Sáu giờ sáng nhổ neo!
Chín giờ sáng chúng tôi tới Pơlei Kuan, Việt Cộng gọi đây là Làng Quán. Pơlei Kuan cách Ngok Hồi chừng 3 cây số. Giờ đây Làng Quán chỉ còn một cái cột gỗ đã cháy đen đứng cô đơn giữa đồng tranh lộng gió.
Tụt xuống một cái dốc, chúng tôi bắt đầu leo lên ngọn đồi thấp nằm giữa hai ngọn núi. Núi bên trái có cao độ 900, núi bên phải có cao độ 800.
Đoạn đường này đúng là tử lộ! Nếu chạm địch thế lực mạnh, chúng tôi chỉ còn cách chạy ngược lại hướng cũ vì hai bên đường đều là vách đá cheo leo.
Không có tiếng chim kêu, không có tiếng suối reo…
Rừng âm u, im ắng một cách lạnh người.
Chúng tôi kiên nhẫn mím môi, dò dẫm từng bước, tai người nào cũng vểnh lên, ngón tay trỏ sẵn sàng kéo cò súng, và chân thì… sẵn sàng… chạy!
Cuối cùng, hơn một tiếng đồng hồ sau, con dốc cũng bị chinh phục.
Tọa độ của đỉnh đồi này cách biên giới Lào khoảng chừng 4 cây số.
Cũng tại địa điểm này Hạ sĩ Yêng ra thủ hiệu cho chúng tôi dừng lại.
Tôi vội vàng vượt lên trước đoàn quân.
Cảnh vật trước mặt khiến tóc gáy tôi dựng đứng ngay lập tức!
Bên kia dốc là một con đường khá rộng, mới được khai quang.
Đường theo hướng Tây Nam, nhưng tới cuối dốc thì đâm thẳng về Nam.
Tôi vẫy tay ra hiệu.
Lập tức, Toán A tấp vào bên phải, canh giữ hướng Tây Bắc.
Hạ sĩ Ba và hai cố vấn Mỹ thì ghìm súng giữ hướng chính Nam.
Thêm vài bước nữa, tôi nhìn rõ mặt lộ, hình như có dấu xe hơi, xe bò, xe thồ!
Bên lề cỏ cũng có dấu xích, nhưng không rõ là xích xe tank hay chỉ là dấu xích của máy cày?
Tôi mở cái máy ảnh ra, chụp một vài tấm rồi ra thủ lệnh cho anh em rút về đường cũ.
Đi được chừng một cây số chúng tôi rẽ vào rừng.
Muốn được an toàn, tôi đã chọn cách lui về đường cũ để nghỉ qua đêm.
Ngày 27 tháng Chạp: Sáu giờ sáng lại nhổ neo!
Tôi không trở lại cái ngã rẽ nơi có con dốc mà tôi đã đi qua ngày hôm trước.
Tôi tin tưởng rằng, cứ hướng Tây Nam mà đi, chắc chắn chúng tôi sẽ gặp con đường mà địch đang sử dụng.
Nào ngờ, vừa lội qua đầu nguồn suối Dak Hơniang chúng tôi lạc vào một thung lũng bao la toàn là cỏ tranh và tre nứa. Dưới tàn lá của rừng tre là hàng chục con đường mới, cũ đan nhau.
Quân tôi tiếp tục đi, lúc thì hàng ngang, lúc thì hàng dọc, tùy theo địa thế.
Trên trục tiến, tôi phải nhiều lần tránh né những toán quân Cộng Sản đi cùng chiều.
Tôi không vào vùng để đánh nhau, phá hoại, hay bắt cóc.
Nhiệm vụ của tôi là: Nghe Ngóng- Quan Sát- Chụp Hình và Chạy Trốn.
May mắn thay! Trong vùng này không thấy bóng dáng tên du kích nào.
Dấu tích giao thông vẫn tiếp tục, mà đa phần là hướng Đông Nam.
Chiều 27 tháng Chạp tôi tới một làng Thượng đã bỏ hoang nằm trên bờ suối.
Đứng đây tôi có thể nhìn thấy đỉnh Ngok Hồi mờ mờ ở đằng xa.
Làng này nằm trên bờ Bắc suối Dak Kal và cách đồi Ngok Hồi khoảng chừng hơn 5 cây số về hướng Nam.
Tôi biết chắc chắn rằng, từ nơi này, đi về hướng Đông Nam, sau khi qua hai cái đèo thấp, con đường sẽ dẫn vào thung lũng Dak Klong. Nếu địch ém quân trong khe núi đầu nguồn Dak Klong thì pháo binh 105 ly của ta từ Ben Het và Căn Cứ 6 dù có nạp hết thuốc bồi cũng không thể với tới.

Hình minh họa
Sở dĩ tôi rành vùng này vì tôi đã từng tham dự hầu hết các cuộc hành quân Bình Tây thời 1968-1969.
Ngày 31 tháng 5 năm 1969 tôi đã lãnh một vết thương bể xương vai, Trung sĩ Attaya, Cố Vấn Mỹ của đơn vị tôi cũng bị vỡ xương hông.
Vị trí mà Attaya và tôi bị thương năm 1969 chỉ cách xa làng Thượng này chừng bảy, hay tám cây số hướng Đông Nam.
Tôi đóng chốt trên ngọn đồi ở cái dốc cuối làng có cây xanh lúp xúp, rất tiện cho việc quan sát. Nếu có biến động thì chỉ cần tụt xuống rừng tre là chúng tôi có thể thoát thân ngay.
Tôi thấy dưới chân đồi, hướng Tây có con đường ẩn mình trong rừng tre.
Tôi dự trù ngày mai sẽ xuống thám sát con đường này.
Trời ngả bóng chiều, tôi chợt nghe có tiếng động cơ từ xa vọng về…
Chẳng mấy chốc tiếng xe đã tới chân đồi. Chúng tôi nín thở, núp mình trong bụi.
Một chiếc xe tank lội nước PT76 nhanh như một cánh én, vừa xẹt qua đã khuất bóng.
Tôi thở dài tiếc rẻ, vì không kịp chụp một tấm ảnh nào.
Nhưng hình như tiếng động cơ đã không dứt mà càng lúc càng lớn hơn.
Hóa ra có tới hai chiếc tank T54 đang nối đuôi nhau đi tới!
Theo đúng sách vở, T54 di chuyển lúc nào cũng phải có đôi, cách nhau một khoảng khá xa để dễ bề yểm trợ cho nhau.
Nhưng trước mắt tôi hai cái xe này lại chạy cách nhau không tới chục thước. Chúng di chuyển một cách thật là chậm rãi và nặng nề.
Có lẽ địch ỷ y vùng này có rừng tre bao phủ nên không cần ngụy trang và cũng chẳng cần giữ đội hình?
Tôi bấm máy, một lần, rồi hai, ba lần, hai chiếc T54 mới khuất dạng.
Chúng tôi tiếp tục nằm chờ…
Sau khi 3 chiếc chiến xa địch đi qua chừng 10 phút thì một toán cán binh chính quy Cộng Sản xuất hiện, bọn họ có 3 người.
Cắc cớ làm sao! Vừa tới cuối làng tên cán binh đi đầu chợt la lên,
“Các đồng chí ơi! Nghỉ một tý đi! Tớ thèm thuốc quá!”
Rồi 3 anh bộ đội ngừng lại, chậm rãi tháo ba lô, sà ngay xuống bãi cỏ dưới chân đồi.
Chỉ vài phút kế đó, một bếp lửa rực rỡ bùng lên.
Trên đồi, tai tôi vừa nghe tiếng điếu cày rít, “Tít! Tít! Tít!” thì mũi tôi cũng bắt đầu ngửi thấy mùi thuốc lào hăng hắc…
Đúng vào thời điểm chúng tôi chuẩn bị rút êm về triền đồi hướng Đông thì,
“Khụ! Khụ! Khụ! Khặc! Khặc! Khặc!…”
Lý do xảy ra tai nạn này chỉ vì gió đang thổi từ Tây Bắc xuống Đông Nam, gió mang theo khói thuốc lào, khói thuốc lào làm cho ông Mỹ Humphrey bị nghẹt thở, tức ngực.
Ông cố vấn đã gắng bịt mũi, bịt mồm mà chỉ mấy giây sau đã đành ôm ngực, phát ra một tràng ho khan!
Trời ơi! Tiếng ho của ông ta lúc này nghe sao mà giống như tiếng sấm long trời lở đất!
Vậy là! Chẳng đặng đừng! Tôi đứng lên, phất tay chỉ xuống chân đồi.
Nhanh như máy, 7 khẩu M16 lao xuống dốc.
“Cành! Cành! Cành!” – “Xung phong! Xung phong! Go! Go!” – “Khụ! Khụ! Khặc! Khặc!”
Tiếng súng nổ, tiếng hô xung phong cùng tiếng ho sặc sụa đã phá tan cái yên tĩnh của một góc rừng chiều.
Tội nghiệp cho anh chàng Humphrey! Không thể đưa tay bịt miệng vì hai tay anh đang bận ôm súng bóp cò!
Giờ phút đó, cổ họng anh ta chắc là ngứa ngáy lắm? Anh ta cứ vừa bắn, vừa chạy, vừa ho một cách thật là… tự do!
Qua đống lửa, ra khỏi vạt tranh cuối làng, tôi tiến lên dẫn đầu, sau tôi là hai anh Mỹ, Hạ sĩ Yêng đi đoạn hậu.
Quẹo về phải, theo hướng chính Bắc! Cứ đội hình hàng dọc, chúng tôi chạy thục mạng.
Vượt một eo núi, tôi nhìn thấy đỉnh Ngok Hồi.
Tôi cho lệnh đứng lại để kiểm kê quân số. Một trăm phần trăm toàn mạng!
Rồi tôi bật cười thành tiếng,
“Ừ! Hì! Hì! Hì! Địch chỉ có 3 thằng, chắc chết cả 3! Có ai đuổi theo mình đâu mà không toàn mạng một trăm phần trăm?”
Hạ sĩ Yêng lò dò tới chỗ tôi ngồi rồi đưa cho tôi một cái ba lô bộ đội.
Ngạc nhiên, tôi hỏi,
– Cái gì thế?
– Em xung phong sau cùng, nhìn thấy 3 thằng chết, 3 khẩu súng, 3 cái ba lô , em nhặt một cái ba lô cho Anh Hai coi xem có gì lạ không?
Viễn Thám Viên tên Yêng này quả là chuyên nghiệp và xuất chúng!
Tôi thường dặn thuộc cấp mỗi khi họ sắp vào vùng,
“Ưu tiên lấy tài liệu! Không cần lấy súng!”
Hôm nay thằng Yêng còn xuất sắc hơn cả Anh Hai của nó!
Mở ba lô ra, tôi tìm được một quyển nhật ký ghi những kỷ niệm gia đình của người lính Bắc Việt này khi anh ta còn ở ngoài Thái Bình. Tôi đã quên tên anh ta. Có việc tôi mãi nhớ là anh ta vừa xâm nhập vào Tam Biên chỉ 3 ngày trước đó. Trên giấy tờ có ghi rõ anh ta là cán binh của đơn vị có tên K1, E52, F320A. Điều này cho tôi biết Tiểu Đoàn 1 Trung Đoàn 52 của Sư Đoàn 320A đang có mặt tại đây.
(Ghi chú của tác giả: Đầu năm 1972, khi xâm nhập vào Tây Nguyên thì Sư Đoàn F320A Cộng Sản Bắc Việt có 3 trung đoàn bộ binh mang tên E 48, E 52, và E 64. Sau chiến dịch mùa Hè năm 1972 thì E 52 bị điều động xuống Bình Định để tăng cường cho Sư Đoàn 3 Sao Vàng)
Tôi vỗ vai Yêng,
– Yêng giỏi! Yêng giỏi!
Thằng Yêng cảm động, nhìn tôi. Ánh mắt nó tràn đầy yêu thương.
Tôi mở tấm bản đồ, nhìn vào đoạn đường mình đã đi qua, lại so với địa điểm mà 3 chiếc tank của địch xuất hiện, tôi mới phát giác ra rằng con đường mà tôi gặp ngày 26 tháng Chạp thì xuất phát từ Căn Cứ Địa 609 nằm trên đất Lào. Còn vị trí 3 chiếc tank của địch xuất hiện chiều 27 tháng Chạp lại đi theo hệ thống đường xuất phát từ Căn Cứ Địa 701 nằm trên đất Cao Miên!
Suối Dak Kal cách suối Dak Hơniang tới hơn 3 cây số.
Mấy ngày nay tôi đã phí công do thám trục đường dọc thung lũng Dak Hơniang mà chẳng thấy dấu vết gì của xe tank, trong khi đó cơ giới địch cứ nghênh ngang phun khói trong rừng tre Dak Kal.
Đêm 27 Âm Lịch trời quá lạnh. Thấy sương mù đặc quánh, tôi cho phép đốt một đống lửa giữa rừng để anh em sưởi ấm.
Ngày 28 tháng Chạp, đúng 4 giờ sáng, đống lửa bị xoá dấu vết, phi tang.
Sáu giờ sáng tôi dẫn quân đi tìm một sườn đồi để làm bãi bốc.
Bãi bốc mà tôi chọn là nương rẫy của một buôn Thượng đã bỏ hoang có tên là Pơlei Bungai.
Tám giờ sáng, Humphrey bắt đầu vào tần số gọi chiếc O2 đang bay tuần tra biên giới để chuyển đơn xin trực thăng.
Chừng 2 giờ sau, hướng Đông xuất hiện hai UH1 và 2 gunship.
Tôi được biết, trên C&C là Trung tá Cố Vấn Trưởng của Biệt Động Quân/Quân Khu 2 và Trung sĩ Thông dịch viên Trương Tô Hà.
Trực thăng bay vòng vòng trên cao và cho tôi hay họ đã nhận được tín hiệu bằng gương chiếu của tôi. Chiếc tàu bốc quân sẽ vào từ hướng Bắc.
Đúng lúc chiếc UH1 còn cách bãi bốc chừng hai trăm thước thì phòng không nổ giòn!
Hai vị trí 12.7 ly của địch nằm trong hốc núi ngay sau lưng bãi trực thăng mà tôi đã chọn!
Chiếc UH1 trúng đạn, chúi xuống bãi lau bên bờ Nam của Dak Hơmong!
Tôi chỉ nghe tiếng động cơ “Lụp! Bụp!” một lúc rồi im. Trực thăng rơi, nhưng không cháy.
Vì ở xa, nên tôi không rõ thiệt hại đã xảy ra như thế nào. Tôi cũng không biết có ai chết hay bị thương.
Ngay giờ phút đó, hai gunship liền bốc lên thật cao rồi chúc xuống bắt đầu bắn phá.
Chiếc C&C cũng vội vàng hạ xuống bờ suối để tiếp cứu phi hành đoàn của chiếc máy bay bị nạn.
Trung tá Cố Vấn Trưởng Biệt Động Quân/Quân Khu 2 báo cho tôi hay cuộc bốc quân hôm nay tạm gián đoạn, chúng tôi phải tìm một bãi bốc khác an toàn hơn.
Thoáng chốc, 3 chiếc trực thăng đã biến dạng ở chân trời hướng Đông.
Bị lộ, tôi cho quân tụt xuống đồi, rồi theo con đường xe be dưới chân núi chạy về hướng Đông.
“Tóc! Tóc! Tóc!” sau lưng tôi có tiếng súng!
Quay đầu lại để quan sát, tôi thấy hơi xa, dưới triền đồi, có cả mấy chục người đang leo lên bãi đáp mà chúng tôi vừa rời đi.
“Gâu! Gâu! Gâu!…”
Trời ơi! Có chó! Có chó là có du kích! Du kích dẫn đường, chính quy theo sau! Thế là chết cha tụi tui rồi!
Chạy được chừng hai trăm mét, một ý nghĩ lóe lên, tôi cho quân dừng lại.
Tôi mở cái túi đeo trên dây ba chạc lấy ra ve thuốc Penicillin bằng thủy tinh, trong đó chứa đầy bột mắm ruốc đã hong khô. Mùi mắm ruốc có thể làm mũi chó bị điếc, ngửi mùi này, chó sẽ mất khả năng đánh hơi tìm mồi.
Năm 1968 ông Trung sĩ Ngọ đã chỉ cho tôi cái công dụng vô song của mắm tôm là có thể làm mất đi thính giác của cọp, beo, heo, gà, và chó…
Rắc hết lọ bột mắm tôm, tôi ra dấu cho anh em dàn hàng ngang nhào xuống triền dốc bên lề trái.
Chỉ lăn tròn vài chục thước thân hình tôi đã nằm im trên mặt một con đường mòn cũ.
Đường mòn này chạy song song với đường xe be ở trên kia.
Lúc này tôi mới chứng tỏ bản lĩnh của “Anh Hai”: Thay vì tiếp tục chạy về Đông, tôi cho lệnh chạy ngược lại, về Tây.
Tôi chạy về Tây có nghĩa là ngược chiều với đoàn người đang truy sát mình. Chúng nó càng đi xa về Đông chúng tôi càng xa sự đe dọa.
Chẳng bao lâu sau, đường xe be phía trên kia đã có tiếng thúc quân bằng tiếng Bắc,
“Khẩn trương! Khẩn trương! Các đồng chí nhanh chân lên! Thấy tụi nó thì các đồng chí cứ bắn chết hết! Không cần bắt sống thằng nào cả!”
Trước mặt tôi có đoạn đường đất lở với dây leo che kín như một cái hang, tôi cho anh em chui vào hang để ẩn mình, chờ cho tụi địch đi qua.
Chỉ hai phút sau, trên kia, tiếng chân người đã bớt dồn dập, tiếng đối đáp léo nhéo cũng nhỏ dần…
(còn tiếp)











