LGT: “Chuyến hành quân cuối năm” coi như món quà Xuân nho nhỏ của một cựu chiến binh VNCH gửi tới Quê Hương, Đồng Bào, Chiến Hữu và bạn Đồng Minh một thời.

(tiếp theo và hết)
Bỗng, “Lộp bộp! Lộp bộp!…” có tiếng nước rơi trên đầu! Hóa ra một thằng địch đang dừng chân bên đường để đái.
Nước đái nóng hổi, bốc khói của thằng Việt Cộng đang tưới trên nón tôi và nón Hạ sĩ Ba. Tôi thấy mặt ông Hạ sĩ Biệt Động Quân nhăn nhó như đang đau khổ vô cùng.
Tôi cau mày, hất đầu một cái, rồi kéo Hạ sĩ Ba đứng lên.
Hai khẩu M16 đồng loạt nhả đạn, ngay lập tức thằng Việt Cộng đang đứng đái lên đầu tôi và Hạ sĩ Ba đã trở thành một liệt sĩ “Sinh Bắc Tử Nam”
Tôi thấy xác thằng địch nằm bật ngửa, nửa trên mặt đường, nửa dưới mép đất lở, chiếc nón cối trên đầu nó đã vỡ nát. Những mảnh nón cối bị vướng vào dây leo, cứ lắc lư, đong đưa…
Sau khi bắn cạn 20 viên M16, tôi vội thay băng đạn mới rồi lớn tiếng hô to,
“Nhảy! Nhảy! Jump! Jump!”
Tiếp đó, tôi quay người nhắm mắt phóng xuống dốc núi.
Sáu người còn lại cũng nhanh chân phóng xuống theo.
Mở hết tốc lực của đôi chân, chúng tôi băng qua đồng cỏ tranh, vượt qua con suối lớn Dak Hơniang, rồi chui vào rừng lau nằm dang hai tay mà thở.
Thở đã đời một hồi thì hết mệt. Tôi cho quân tiếp tục đi.
Trời bỗng đổ mưa to, không nhìn thấy gì, đoàn người lại chui vào rừng lau.
Lại đội hình vòng tròn, chúng tôi không nằm, mà ngồi, súng để trên đùi, không chia phiên gác, vì có ai ngủ được đâu?
Cuối cùng, mưa cũng tạnh và trời cũng sáng…
Ngày 29 tháng Chạp Âm Lịch, vất vả nửa ngày chúng tôi mới vượt qua một khu rừng tre gai và một cái đầm lầy. Tới trưa thì chân của chúng tôi rã rời, không tài nào bước nổi. Vừa ngồi xuống nghỉ, chưa được bao lâu thì mặt trời đã biến mất!
Đêm 29 tháng Chạp Âm Lịch trời đầy sao và không có sương mù.
Chúng tôi cứ nhắm cái đèn đỏ trên đỉnh cột ăng ten của phi trường Ben Het rồi vẹt cỏ mà đi tới.
Hết lên dốc, xuống đồi, qua rừng, qua suối, cuối cùng chúng tôi cũng đặt chân lên Tỉnh Lộ 512.
Tôi tin chắc rằng phi trường Ben Het không hề có hàng rào và mìn bẫy nên cứ hiên ngang leo lên đầu phi đạo hướng Tây rồi lăn quay ra ngủ sau khi báo cho ông Thiếu tá Chữ biết rằng tôi đang ở đâu.
Sáng 30 tháng Chạp, mặt trời vừa lên, chiếc trực thăng riêng của Tư Lệnh Quân Đoàn II đã hạ xuống phi trường Ben Het. Hành khách độc nhất của chuyến bay chính là ông Trung tá Trưởng Phòng 2 Quân Đoàn II. Tôi trao cái máy ảnh và tấm bản đồ có ghi lộ trình mà tôi đã đi qua cho ông Tiếu.
Sau khi nghe tôi tường trình lại một cách chi tiết toàn bộ diễn tiến của cuộc thám sát vừa qua, ông Tiếu bèn ôm vai tôi rồi nói nhỏ,
– Nghe tin chuyến đi thành công, anh em an toàn trở về Tư Lệnh mừng lắm! Chắc chắn sau khi thấy kết quả chuyến đi này của Long thì tụi Mỹ mới chịu tin rằng chiến xa Việt Cộng đang hiện diện trong khu vực này.
Thì ra mục đích chuyến nhảy toán cuối năm của chúng tôi là chứng minh cho người Mỹ biết chuyện chiến xa địch đã có mặt trong vùng Tam Biên là có thật.
Trước đây người Mỹ cứ khăng khăng không hề có chuyện này.
Sau khi bắt tay tôi và Đại úy Humphrey ông Trung tá Trưởng Phòng 2 vội vàng leo lên tàu bay đi.

Ngày 30 tháng Chạp Âm Lịch, hai giờ chiều trực thăng chở 10 Viễn Thám Viên Mỹ Việt của Biệt Động Quân Vùng 2 đáp xuống bãi đáp có tên “Hill 1001” nằm sau bảng hiệu “Thành Quang Trung” nơi cổng chính của quân đoàn.
Trung tướng Ngô Du và vài ba ông sĩ quan tham mưu của Quân Đoàn II đã có mặt đón chờ chúng tôi.
Tôi còn nhớ, năm 1970, ngay ngày nhậm chức Tư Lệnh Quân Đoàn II và Quân Khu 2,Tướng Ngô Du đã cho lệnh hạ bệ cái bảng “Thành Pleime” ở cổng chính Bộ Tư Lệnh và thay thế bằng cái bảng mới mang tên là “Thành Quang Trung” Sau cổng chính là điếm canh, đối diện điếm canh có một sân để trực thăng hạ cánh.
Trước đây, vị trí này chỉ là khoảng đất trống phủ bằng cát, rộng cỡ một sân bóng chuyền, ở giữa là một chữ “H” bằng vỉ sắt, sơn trắng. Chữ “H” chỉ có ý nghĩa là Trực thăng (Helicopter)
Cuối năm 1971,Tướng Ngô Du đã cho sơn phết lại cái bãi đáp này rồi đặt tên cho nó là “Hill 1001”
Trung tướng Tư Lệnh làm việc này với chủ ý để ghi nhớ chiến thắng mùa mưa năm 1971. Do chiến thắng này mà ông đã được vinh thăng cấp trung tướng.
Tuy vậy ít người biết “Hill 1001” có ý nghĩa gì.
“Hill 1001” là tiếng Mỹ, dịch ra tiếng Việt là “Đồi 1001”

Đồi 1001 là nơi có Căn Cứ 6.
Căn Cứ 6 nằm trên đỉnh núi Ngok Ring Rua có cao độ 1001 mét.
Mùa Hè 1971 đã xảy ra những trận giao tranh vô cùng ác liệt trong vùng xung quanh Căn Cứ Hỏa Lực số 6, trong núi Ngok Tang, trong núi Ngok Long Roua, trong núi Ngok Bear Beang, và trong những thung lũng Dak Drol, Dak Kal, Dak Klong.
Hàng trăm đồng ngũ của tôi đã ngã xuống.
Để ghi lại công lao hy sinh của bạn bè tôi năm ấy, hiện giờ chỉ còn cái sân trực thăng trải cát mang tên “Hill 1001”
Hôm nay kết thúc một lần nhảy toán cuối năm, chúng tôi cũng hiện diện ở đây để nhận 10 tấm huy chương, 10 cái vỗ vai và 10 cái bắt tay.
Mai đây sẽ chẳng còn ai nhớ chuyện này.
Tối 30 tháng Chạp Âm Lịch trong văn phòng của tôi lại có 8 người lính Việt Nam và 2 người lính Mỹ ngồi quây quần trên nền gỗ.
Ở giữa vòng tròn người là một mâm rau thơm, rau sống với 4 con gà luộc, gần chục ổ bánh mì cùng hai vò rượu chát Napoleon.
Tôi nâng ly, mở lời,
– Hôm nay để đón mừng Ông Táo về lại trần gian, tụi mình sẽ chơi hết hai bình Napoleon này!
Mười anh lính Việt, Mỹ, Kinh, Thượng lại cùng giơ tay hô to,
“Dô!…Dô!…Go!…Go!…”
Thằng Yêng đã uống tới ly rượu thứ tư hay thứ năm rồi mà vẫn chưa say. Nó còn bắt nhạc sĩ Lương Thìn đệm đàn cho nó hát bài “Người yêu của lính”
Thấy giọng ca của nó cứ lơ lớ như thể là nó đang ca bằng tiếng Mỹ, tôi bèn hỏi Humphrey,
– Ông có hiểu thằng Yêng đang hát gì không?
Humphrey gật đầu,
– Hiểu chứ! Nó đang ca tụng vợ nó đẹp!
– Làm sao ông biết nó đang khen vợ nó đẹp?
– Nhìn ánh mắt chớp chớp của nó và cái miệng tươi cười của nó mà tôi biết!
Tôi chịu thua, đành vỗ vai Humphrey giống như cách đây mấy ngày, tôi đã vỗ vai thằng Yêng,
– Humphrey giỏi! Humphrey giỏi!
Humphrey mở cửa văn phòng, nơi đó anh đã để sẵn ba, bốn két bia.
Humphrey nhét vào tay mỗi người chúng tôi một lon Budweiser bông trắng rồi cao giọng,
– Mời các bạn say trọn đêm nay! Hãy uống để tiễn tôi lên đường! Hai ngày nữa tôi sẽ rời xa các bạn.Tôi đã mãn nhiệm kỳ. Tôi phải về Mỹ!
Humphrey bấm cái nút Play của chiếc máy Cassette để trên mặt bàn.
Khi tiếng đàn, tiếng trống, tiếng kèn, bắt đầu phát ra từ cái loa của Cassette thì anh em cũng tự động đứng lên vỗ tay theo nhạc.
Phút chốc, cường độ âm thanh trong phòng đã lớn tới mức làm cho cái bóng điện treo lơ lửng dưới trần nhà phải rung rinh.
Tôi không còn nhớ lúc đó lòng tôi đã vui hay đã buồn. Có thể là buồn, vui lẫn lộn.
Tôi buồn vì sắp đứng trước một cuộc chia ly.
Tôi vui vì được chia sẻ hạnh phúc với người bạn Đồng Minh đã có thời gian hơn nửa năm cùng tôi đồng cam cộng khổ.
Với tấm vé “One way ticket” trên tay, hai ngày nữa, bạn tôi sẽ bay qua biển để về sum họp với gia đình.
Và từ ấy, bạn tôi sẽ không bao giờ quay lại…
VML
Seattle, USA một ngày cuối năm 2025









