Lời giới thiệu: Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.

Đôi bờ Đa Dung năm 2021. Nguồn: PGĐ 2021

Nhiều kỳ – Kỳ 3

Người dân tộc Jarai gọi Pleiku là Trà-Ku.

Tôi ở Pleiku lâu rồi, tuy không nói được tiếng Jarai nhưng nghe biết nhiều tiếng thường dùng của họ.

Khi nhắc tới Trà-Ku, không ai cố ý khơi chuyện buồn. Nhưng bỗng nhiên thầy trò chúng tôi cùng ngước nhìn nhau, rồi cùng nhìn về phương Bắc, rưng rưng…

Hướng Nhơn-Cơ có chạm súng, vì ở cuối gió nên tôi nghe rõ tiếng đạn đại liên, đạn đại bác, và đạn súng cối nổ đì đùng.

Trên máy truyền tin có giọng Thiếu tá Khánh, Chi khu trưởng Chi khu Nhơn-Cơ và Thiếu tá Mẫn, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân gọi nhau. Thiếu tá Mẫn báo cáo với bộ chỉ huy liên đoàn rằng Cộng Quân đang tấn công vào khu xưởng cưa cách quận đường Nhơn-Cơ hai trăm mét về hướng Ðông.

Hai khẩu đại bác 105 ly Biên phòng của tôi phải trở ngược nòng về hướng Ðông, yểm trợ cho Thiếu tá Mẫn suốt đêm.

Sáng hôm sau có nhiều phi tuần A37 đánh tiếp cận cho quận Nhơn-Cơ.

Cuộc giao tranh có vẻ kéo dài cầm chừng cho tới trưa 19 tháng Ba.

Trong khi đó thì tình hình vùng tôi chịu trách nhiệm cũng có nhiều chỉ dấu đang biến chuyển. Nửa đêm về sáng chúng tôi thấy nhiều đốm lửa di động vùng Nam Kiến-Ðức, có cả tiếng động cơ.

Những toán chống tank đã được gởi đi nằm phục trong rừng.

Ở đây, tôi không ngán tank Việt-Cộng một chút nào, vì tôi đã trấn giữ cái đồn này gần nửa năm.

Tôi đã nghiên cứu, thám sát và nắm chắc địa hình vùng này.

Chỉ có hai hướng xe tank có thể áp sát đồn Kiến-Ðức. Cả hai ngả đều có bãi mìn chống tank của tôi. Mỗi bãi chôn bốn mươi quả mìn đĩa. Mỗi quả mìn đĩa được kèm theo một đầu đạn 105 ly.

Quan trọng nhất là việc bảo vệ bãi mìn. Bãi mìn không người bảo vệ coi như vứt đi, vô dụng.

Kinh nghiệm trong quá khứ, tháng 8 năm 1973 khi nhảy toán Biên Vụ (Viễn Thám) vùng Ðông căn cứ Plei Djereng tôi đã thấy xe tank địch chạy phoong phoong trên bãi mìn của Quân Ðoàn II đặt gần Plei De Chi hướng Tây Pleiku mà chẳng nghe mìn nổ. Công Binh của Quân Ðoàn II đã bỏ công sức hàng tháng trời để thiết lập bãi mìn chống tank này. Vậy mà sau đó nó bị bỏ thí, không người canh gác.

Công Binh Việt-Cộng chỉ cần hai hàng bangalore là mở được một hành lang rộng cho tank đi qua.

Ở Kiến-Ðức, mỗi bãi mìn chống tank của tôi, khi hữu sự, được bảo vệ bằng một đại đội Biệt Ðộng Quân. Ðại đội này không có nhiệm vụ đánh tank mà đánh những tên cán binh Cộng-Sản đi dò, dọn đường cho tank.

Sáng 20 tháng Ba năm 1975, Trung tá Liên đoàn trưởng ra lệnh cho tôi bứt những cái chốt của Việt-Cộng trên Tỉnh lộ 344 để link-up (bắt tay) với một đại đội thuộc Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân của Thiếu tá Trần Ðình Ðàng. Ðại đội này đang trấn giữ một ngọn đồi bên cái cống xi măng trên tỉnh lộ.

Tôi thu Ðại Ðội 4/82 của Thiếu úy Phạm Văn Thủy từ hướng Bắc về hợp lực với một đại đội của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân tăng phái để giữ đồn Kiến-Ðức. Ðại Ðội 4/82 giữ đồi Tây, Ðại Ðội của Tiểu Ðoàn 63 phòng thủ ngọn đồi chính và chốt giữ cầu Dak Blao.

Tôi dặn dò Ðại úy Tiểu đoàn phó về sự quan trọng của hai bãi mìn chống tank. Bất cứ giá nào cũng phải giữ. Vì nếu tôi đang đánh nhau ở phía trước, mà bị tank địch tập kích từ đằng sau thì không tài nào trở tay.

Xem thêm:   Tameichi Hara - Khu trục hạm xứ mặt trời mọc (kỳ 26)

Ðại úy Hoàn chần chừ một lúc rồi gãi đầu xin tôi cho đi nhổ chốt,

– Thái Sơn cho tôi đi khai thông con đường có được không?

Quả thực, từ xưa tới nay, từ đại đội tới tiểu đoàn, tôi chưa bao giờ sử dụng người phụ tá của mình làm nỗ lực chính bao giờ.

Nhiệm vụ của những ông phó cho tôi là yểm trợ cho tôi, và sẵn sàng thay thế tôi, nếu tôi nằm xuống.

Ðại úy Ngũ Văn Hoàn đã phục vụ dưới quyền tôi gần nửa năm. Ông chỉ thuần túy làm công việc yểm trợ chứ không bị tôi đưa lên tuyến đầu lần nào.

Thấy tôi ngần ngừ, ông ta nài nỉ,

– Giữ đồn nặng hơn bứt chốt. Thái Sơn cho tôi đi bứt chốt đi!

Nghe ông Hoàn nói có lý, tôi gọi hai đại đội trưởng trách nhiệm nhổ chốt là Trung úy Phước (ÐÐ 3/82) và Trung úy Ðăng (ÐÐ 2/82) lên dặn dò, chỉ bảo họ đường đi, nước bước, cách đánh nào thích hợp nhứt trong tình huống này.

Bộ chỉ huy nhẹ Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của Hoàng Long cùng hai đại đội tác chiến lên đường lúc 10 giờ sáng ngày 20 tháng Ba. (Hoàng Long là danh hiệu truyền tin của Đại úy Ngũ Văn Hoàn)

Trong khi tôi đang theo dõi diễn tiến hành binh của Ðại úy Hoàn thì tổ báo động hướng Bù-Binh báo cáo có tiếng xe tank địch.

Ðể tiện quan sát, tôi cùng toán hộ tống leo lên đỉnh đồi Tây, nơi Thiếu úy Phạm Văn Thủy (ÐÐT/ÐÐ 4/82) trấn giữ.

Từ đỉnh đồi, tôi có thể quan sát tới khúc quanh nơi cái cống sập cách Kiến-Ðức gần hai cây số về hướng Nam.

Khẩu SKZ 57 ly của tiểu đoàn lúc nào cũng sẵn sàng trên đỉnh đồi Tây. Ống nhắm của khẩu súng đã điều chỉnh chính xác ngay cái cống sập. Nếu SKZ bắn hụt thì tổ chống tank núp sẵn trên triền đồi sẽ làm nhiệm vụ tiếp tay.

Khi thằng Thọ (B2 Thọ nấu cơm) trao ly cà phê cho tôi vừa trở gót xuống đồi thì tiếng 12.7 ly nổ rền hướng Nhơn-Cơ.

Lúc đó là giữa trưa. Máy truyền tin các cánh quân của Ðại úy Tiểu đoàn phó gọi nhau cuống quýt.

Tôi nghe Delta và An Bình báo cáo đang chạm địch nặng. Delta đang bị đại liên địch dồn xuống khe suối bên trái đường lộ.

Delta yêu cầu An Bình giữ an ninh bên phải giùm anh ta để anh ta rút về con dốc đầu chữ “S”.

Tôi không nghe tiếng Hoàng Long trên máy.

Tôi vào máy hỏi Delta và An Bình sao không nghe Hoàng Long, thì hai anh đều không rõ ông Ðại úy Tiểu đoàn phó ở chỗ nào.

Tình hình có vẻ nghiêm trọng. Tôi giao cho Thiếu úy Thủy lo vụ chống tank rồi tụt xuống đồi.

Nhảy lên chiếc xe Jeep, tôi phóng nhanh tới cái nút chặn hướng Ðông của Ðại Ðội 1/82. Từ đây tôi và toán cận vệ chạy bộ lên chỗ Ðại Ðội 3/82 và Ðại Ðội 2/82 đang chạm địch.

Quân của Trung úy Phước (ÐÐ 3/82) đang nằm trong rừng, bên phải lộ. Phước chiếm được ngọn đồi cao, nằm dài theo hướng Ðông Tây.

Còn Trung úy Ðăng ở bên trái con đường. Ðại liên Việt-Cộng từ hai hướng Nam Bắc con lộ đang bắn tới tấp vào bên trái dốc chữ “S” nơi đơn vị của Trung úy Ðăng bị sa lầy.

Ðại đội của Trung úy Ðăng đang kẹt trong rừng khọt (cây dầu rái) lơ lửng giữa con suối và con đường.

Tôi cho pháo binh và cối 81 ly bắn cản trước mặt đại đội của Trung úy Ðăng để đơn vị của anh bò từ từ lên cao, bắt tay với Ðại Ðội 3/82.

Khi Ðại Ðội 2/82 bắt tay được Ðại Ðội 3/82, tôi ra lệnh cho hai đại đội quây tròn trên đỉnh đồi bên phải tỉnh lộ.

Tôi sử dụng pháo từ Kiến-Ðức bắn ngay mặt lộ để ngăn địch truy kích. Nhưng tiếng súng của địch đã êm. Như thế là chúng không chủ tâm giao chiến, hoặc chúng chưa có lệnh giao chiến với Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.

Hình ảnh đoạn đường chữ “S” ở Kiến Đức 46 năm sau (nguồn: PGD 2021)

Chỉ nhìn thoáng qua trận địa, tôi đã hiểu ngay chủ đích của địch là nhử quân ta tiến sát khu chữ “S” rồi chúng dùng hai khẩu 12.7 ly kềm chân quân ta. Sau đó bộ binh địch bao vây chia cắt hậu quân của ta.

Xem thêm:   Những con tem Pháp-Việt

Bao vây chia cắt là chiến thuật cổ điển, nhưng rất hữu hiệu khi chặn đánh một đoàn quân đang khai lộ.

Trung úy Ðăng báo cáo với tôi rằng khi đơn vị anh còn cách cái xác của Thượng sĩ Ngon chừng một trăm thước thì đại liên địch khai hoả. Ðại úy Tiểu đoàn phó hăng hái xông lên với trung đội đi đầu của Ðại Ðội 2/82.

Ông Hoàn nói với Ðăng,

– Kỳ này mình lấy cây 12.7 ly về cho Thái Sơn giải buồn!

Nhưng chỉ năm phút sau, từ con suối bên trái trục tiến quân, địch vừa bắn vừa ào ạt xung phong lên cắt đơn vị anh thành ba phần. Chuẩn úy Nguyễn Hữu Ðức và trung đội đi đầu của Ðại Ðội 2/82 bị mất liên lạc; ông tiểu đoàn phó đã đi theo đoàn quân của ông chuẩn úy này.

Xế trưa, tôi cho quân cuốn chiếu, rút lui từ từ về hướng Kiến-Ðức.

Chiều đó chúng tôi bắt tay được tiếp điểm Ðông của Ðại Ðội 1/82.

Khoảng 4 giờ chiều cùng ngày tôi nghe tiếng Hoàng Long trong tần số nội bộ của Delta. Ông tiểu đoàn phó nói rất nhỏ, có lẽ ông ta đang bị địch bám sát.

– Tôi đi với đứa con đầu của thằng Delta. Tôi bị đánh bọc hậu mất liên lạc với đằng sau. Hiện tôi ở trên triền một ngọn đồi hướng Bắc con đường, nhưng không xác định được tọa độ. Chúng nó (Việt-Cộng) đang đuổi theo tôi.

– Rồi! Bình tĩnh! Anh còn bao nhiêu người cho tôi biết đi?

–  Tôi còn sáu chục người!

– Sáu chục thì đủ mạnh để đánh mở đường về với tôi rồi. Cứ hướng bốn nghìn tám trăm mà phóng đi! Càng nhanh càng tốt! Giữ liên lạc với tôi!

Có tiếng bấm ống nghe “xẹt! xẹt!” rồi tiếng Hoàng Long thì thào,

Thái Sơn ơi! Tôi còn có sáu người thôi! Tôi ngụy thoại thành sáu chục đó (!) Tôi với năm thằng lính của Delta là sáu. Tụi tôi bị chúng nó (Việt-Cộng) cắt ngang từ phút đầu. Cái máy truyền tin này là của trung đội đầu của thằng 2!

Thực là dở khóc, dở cười. Tuy vậy tôi cũng an tâm là ông Hoàn vẫn còn sống. Tôi ôn tồn,

– Thôi được rồi! Bây giờ làm theo tôi chỉ. Ði thẳng hướng sáu nghìn tư cho tới con suối hướng Bắc ngọn đồi anh đang đứng. Sau đó quẹo trái, ngược dòng con suối, đi riết về hướng Tây. Hết suối là về tới chỗ tôi. Làm ngay đi!

– Tôi nghe 5! Thái Sơn nhớ báo cho tụi thằng Hồng Hà (Thiếu úy Học) tránh ngộ nhận tôi đó nhe!

– Ừ! Thôi! Lẹ lên!

Từ đồn Kiến-Ðức, Thiếu úy Thủy báo cáo rằng, nơi cái cống sập, chiếc tank từ hướng Bù-Binh bò lên đã hiện nguyên hình là cái máy cày cài cành lá ngụy trang. Ba tên cán binh Việt-Cộng trên xe, đã vứt xe, nhảy xuống đường định chạy thoát thân khi trái hỏa tiễn XM202 xé nát đầu chiếc máy cày.

Hai băng M16 đốn ngã 3 tên giặc. Ba khẩu AK 47 và một khẩu phòng không 12.7 ly cháy theo chiếc xe tank dỏm.

Chiếc xe máy cày bị bắn cháy đã trở thành chướng ngại vật cản trở xe tank nằm giữa đường Bù-Binh, Kiến-Ðức.

Gần tối hôm đó Ðại úy Tiểu đoàn phó và năm người lính theo ông về tới tiền đồn Bắc của Ðại Ðội 1/82.

Trước đó vài phút, trung đội của Chuẩn úy Nguyễn Hữu Ðức chui ra khỏi rừng hướng Nam con lộ và liên lạc được toán tiếp đón của Ðại Ðội 1/82.

Người mang máy PRC 25 cho Ðại úy Hoàn có mặt trong trung đội của Chuẩn úy Ðức. Cái máy truyền tin của ông tiểu đoàn phó đã bị bắn bể từ phút đầu tiên.

Xem thêm:   Mùa lễ kém vui

Tính tới 5 giờ chiều, Ðại Ðội 2/82 còn thiếu 14 người.

Ðêm xuống, sương mù dày đặc, trăng thượng tuần có cũng như không. Các tiền đồn không dám gài mìn bẫy vì sợ quân bạn thất lạc trở về vướng bẫy.

Gần sáng, Trung tá Liên đoàn trưởng cho lệnh tôi bỏ Kiến-Ðức, tìm mọi cách rút về Nhơn-Cơ.

Sáng 21 tháng Ba năm 1975, tôi chuẩn bị đánh một trận nhổ chốt thần tốc.

Tôi xin pháo binh của tiểu khu một hỏa tập thu gọn trong ô vuông mỗi chiều một cây số từ đầu tới cuối khúc đường chữ “S”.

Pháo 105 ly Nhơn-Cơ bắn không ngừng từ khi tôi xuất quân, và chỉ được phép chấm dứt khi tôi yêu cầu.

Về phần Trung Ðội Pháo Binh Biên Phòng Biệt Ðộng Quân ở Kiến-Ðức thì 500 quả đạn nổ 105 ly được chất lên xe. Hai khẩu đại bác được hai toán Biệt Ðộng Quân đẩy bằng tay di chuyển trên hai bên bìa đường.

Tôi cho đại bác trực xạ ngay sát mép rừng hướng trước mặt. Quả đạn sau nổ chỉ cách quả đạn trước hai chục thước.

“Ðùng! Ðoàng!”- “Ðùng! Ðoàng!” ra khỏi nòng một, hai giây là đạn nổ.

Khẩu súng bên trái bắn vào rừng bên phải; khẩu bên phải bắn vào rừng bên trái.

Sở dĩ phải bắn như thế vì bắn mục tiêu ở bên lề đường đối diện dễ hơn bắn mục tiêu cùng phía với súng.

Cứ thế, “Ðùng! Ðoàng!”- “Ðùng! Ðoàng!” hai họng đại bác thay nhau tiến lên, bắn liên tục.

Ðàng sau lưng tôi là khẩu 81 ly của tiểu đoàn và bốn khẩu 60 ly của các đại đội.

Tôi cho cối 81 ly bắn đạn thời nổ chậm (delay) trong khi cối 60 ly bắn đạn chạm nổ.

Tầm bắn di động từ gần ra xa dần theo hướng tiến quân. Sau mỗi đợt pháo, tầm xa lại hạ xuống một vòng tay quay.

Vòng tay quay nằm bên phải nòng súng, dùng để điều chỉnh tầm xa của điểm đạn sẽ rơi. Tầm đạn rơi gần nhất là khi nòng súng được đặt ở độ dốc 90 độ so với mặt đất, và được bắn không có thuốc bồi, còn gọi là thuốc bồi KHÔNG.

Ðặt nòng súng với góc 45 độ so với mặt đất, và đuôi đạn được gắn 4 vỉ thuốc bồi thì đạn sẽ rơi trên mục tiêu xa nhất.

Tiếng cối depart “kinh! kinh!””kinh! kinh!” liên hồi kỳ trận, âm vang dội trong khe núi.

Ðạn cối nổ “ùm! ùm!””ùm! ùm!” Cây cành gãy răng rắc.

Mưa đạn cối đang rơi hai bên đoạn đường ngắn ngủi hơn một cây số rừng rậm.

Thêm vào đấy là tiếng đại liên, trung liên, M79, lựu đạn, và tiếng quân ta reo hò, la hét. Khói và bụi cuồn cuộn trước mặt.

Biệt Ðộng Quân hàng ngang trong rừng, song song với hai khẩu đại bác ngoài đường.

Những người lính miệng hô “Biệt Ðộng! Sát!” vừa bước tới, vừa bóp cò.

Quân đằng trước vừa hết đạn thì dừng lại, thay băng đạn mới; quân đằng sau lên thay, tiếp tục vừa bắn vừa tiến.

Người thì thay phiên nhau bắn, nhưng đạn không ngừng nổ rền trời.

Theo thế sâu đo, Biệt Ðộng Quân tiến ào ào, khí thế như nước vỡ bờ.

Ðây là một trận đánh chớp nhoáng nhưng lại rất thảnh thơi, thoải mái, lớp lang.

Mỗi cánh quân hai bên đường có sáu toán an ninh cạnh sườn. Sáu toán trang bị mìn Claymore và M79 bắn đạn chài, đạn nổ, làm nhiệm vụ chống bao vây chia cắt. Gặp đường mòn, triền dốc, những toán này dừng lại gài mìn bố trí chờ.

Ra quân lần này tôi đã tận dụng tất cả hỏa lực có trong tay đánh phủ đầu không cho địch kịp ngóc lên thở. Khẩu 12.7 ly của Việt-Cộng bên hướng Nam con lộ chỉ bắn được vài viên là câm họng.

(còn tiếp)