Mặt trận Xuân Lộc – Long Khánh. Nguồn: Dòng Sông Cũ – WordPress.com

Nhiều kỳ – kỳ 3

Nghe ông Toàn nói, tôi không ngăn nổi sự tức giận, liền lớn tiếng,

– Thưa Trung tướng! Trung tướng có thể làm người bất tín, bất nghĩa! Nhưng tôi thì không! Tôi không thể làm một Liên đoàn trưởng đem con bỏ chợ! Yêu cầu Trung tướng cho bốc hết liên đoàn, hay là trả tôi vào rừng trở lại với thuộc cấp của tôi! Trong hai ngày tới mà Trung tướng không đem hết những người còn lại ra khỏi vùng thì tôi sẽ cho Tiểu Ðoàn 82 giải tán! Tôi không đánh nhau nữa! 

Chắc thái độ của tôi đã làm cho Tướng Toàn tức giận lắm. Ông ta nhảy xuống đất, tay cầm cái can chỉ huy giơ lên, hạ xuống hai ba lần, như sắp bổ xuống đầu tôi mấy phát cho hả dạ.

Ông Toàn biết tôi là người dám nói, dám làm. Có lẽ yêu cầu của tôi đã đưa ông Tư lệnh Vùng 3 vào một tình trạng rất khó xử trí. Bình thường thì mặt Tướng Toàn đã không hồng hào, sáng sủa gì, giờ đây tôi thấy mặt ông ấy tím ngắt.

Sau khi cúi đầu đi qua, đi lại, mấy vòng quanh cái đuôi trực thăng, Tướng Toàn chợt đứng lại, giơ cao cây gậy chỉ huy của ông ta lên, rồi thẳng tay đập liên tiếp mấy cái trên tấm bảng đỏ 3 sao trắng là dấu hiệu Trung Tướng, gắn bên hông con tàu.

Lẫn với tiếng “Kịch! Kịch! Kịch!” do cán gậy gỗ chạm mặt tấm bảng thiếc là tiếng chửi thề của ông,

– Ð! M! Mi ép tau vừa thôi! Mi ép tau vừa thôi! Okay! Tau cho bốc! Tau cho bốc!

Rồi chẳng thèm nhìn mặt tôi, ông Tư lệnh leo lên trực thăng. Cánh quạt quay nhanh, con tàu bay đi.

Tới lúc chiếc trực thăng bay lẫn vào trong đám mây trắng hướng Ðông Bắc, tôi mới chợt nghĩ lại, tự thấy rằng mình vừa làm một việc quá nóng nảy, quá hồ đồ. Nhưng ngay sau đó, tôi lại tự an ủi, biết đâu vì cái hồ đồ, nóng nảy của tôi mà Tướng Toàn nghĩ lại, sẽ ra tay cứu vớt những anh em đồng ngũ của tôi còn đang nguy khốn ở trong rừng.

Tướng Toàn đi rồi, tôi theo xe của Chiến Ðoàn 43 vào gặp mặt ông Chiến đoàn trưởng. Ðại tá Lê Xuân Hiếu nói rằng tạm thời Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân giữ vai trò trừ bị cho Chiến Ðoàn 43 và có nhiệm vụ phòng thủ doanh trại 181 Pháo Binh của Sư Ðoàn.

Muốn có một ý niệm thích hợp để bố quân và điều quân, phòng khi biến động, thì tôi phải đích thân đi quan sát địa thế.

Tôi thấy trại 181 Pháo Binh nằm về hướng Tây của Núi Chứa Chan và cách xa ngọn núi này đúng 12 cây số đường chim bay. Doanh trại này có hình vuông, mỗi chiều cỡ hơn trăm mét.

Hướng Tây trại này cách bờ đất phòng thủ của thị trấn Xuân-Lộc một con đường rộng chừng bốn thước, hướng Bắc và Ðông là đồng cỏ tranh um tùm, hướng Nam là đường hương lộ lát đá kéo dài từ sân bay Xuân-Lộc tới Quốc lộ số 1.

Xung quanh căn cứ này có hàng rào tre đực, với dây thép gai, cùng giao thông hào, thiết trí như một Ấp Chiến Lược.

Trong vòng đai và cổng chính của căn cứ có gần chục cái lô cốt xi măng, cốt sắt.

Nếu có giao chiến, căn cứ này sẽ là một cứ điểm vô cùng lợi hại. Vậy mà nó đang bị bỏ trống.

Trên khuôn viên của trại có năm cái nhà vòm bằng tôn, bốn nhà không có tường vách, cái thứ năm nằm sát bờ rào hướng Ðông thì được vây bằng ván kín mít, hiện có ba gia đình binh sĩ với vài cháu bé cỡ năm sáu tuổi đang trú ngụ trong đó.

Giờ này không biết Tiểu Ðoàn 181 Pháo Binh đang ở đâu.

Hiện thời Bộ chỉ huy Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân còn tôi (Thiếu tá Vương Mộng Long), Ðại úy Ngũ Văn Hoàn, Trung úy Nguyễn Văn Trâm, Chuẩn úy Lê Văn Phước.

Trung đội vũ khí nặng của Ðại Ðội Chỉ Huy coi như đã triệt tiêu, không súng cối, không đại liên. Sáu toán Viễn Thám, thì còn ba toán.

Ðại Ðội 1/ 82 của Thiếu úy Ðặng Thành Học trở thành đơn vị vững chãi nhứt của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân từ sau trận Ðạo-Trung, Quảng-Ðức cuối tháng 9 năm 1974. Suốt thời gian lui binh từ Quảng-Ðức về Blao tôi đã đi sát với đại đội này.

Xem thêm:   Mặt trận Đông Nam - Xuân-Lộc 1975

Ðại Ðội 2/ 82 hiện thời không có đại đội trưởng vì Trung úy Võ Hữu Danh coi như mất tích trên đường rút lui theo chân Tiểu Khu Quảng- Ðức nên tôi đặt đại đội này dưới quyền chỉ huy của Chuẩn úy Gấm là một sĩ quan lớn tuổi, và có nhiều kinh nghiệm trận mạc.

Ðại Ðội 3/82 được giao cho ông sĩ quan Ban 2 là Trung úy Trần Văn Phước. Phụ tá cho Trung úy Phước là một ông sĩ quan vừa đẹp trai, vừa đánh giặc giỏi là Chuẩn úy Phan Quốc Thiều.

Ðại Ðội 4 vẫn còn dưới quyền Thiếu úy Phạm Văn Thủy. Hiện nay Thiếu úy Thủy là sĩ quan đại đội trưởng thâm niên nhất của tiểu đoàn tôi.

Quân số của các Ðại Ðội 1,2,3 còn khoảng trên 50 người một đại đội. Ðại Ðội 4 thiếu một trung đội của Chuẩn úy Bảo, quân số hiện giờ là hơn 40 tay súng.

Tôi cho các Ðại đội 1, 2 và 3 bố trí trong vòng rào trại 181 Pháo Binh.

Còn Ðại Ðội 4 có nhiệm vụ giữ cổng chính và cây cầu bắc ngang qua con suối khá lớn, các chị vợ lính Pháo Binh gọi con suối này là suối Rét, nhưng trên bản đồ thì tên của nó lại là suối Gia Lêu.

Khi biết rằng tôi được giao nhiệm vụ phòng thủ doanh trại 181 Pháo Binh thì Ðại tá Phúc chở theo một ông Ðại úy và một ông Trung úy Ðịa Phương Quân ra tận đầu phi đạo gặp mặt tôi, rồi vừa cười cầu tài, vừa nói,

– Chú cho anh nhờ chút được không?

Hóa ra ông Tỉnh trưởng đề nghị “bán cái” cho tôi cái nhiệm vụ phòng thủ phi trường Xuân-Lộc!

Lúc này trên sân bay có hai đại đội Ðịa Phương Quân do Quân-Khu 3 tăng cường cho Long -Khánh, nhưng không có sĩ quan liên đội trưởng, nên Ðại tá Tỉnh trưởng muốn đặt hai đại đội Ðịa Phương Quân này dưới quyền chỉ huy của tôi.

Liên đội này có một đại đội của Tiểu Khu Long-An, do ông đại úy tên là Ðức làm đại đội trưởng. Ông đại úy này là người Nam, cao, to, oai vệ, nhìn không khác gì Trung tướng Nguyễn Văn Toàn.

Ðại đội thứ nhì thì di tản từ Bình-Long về do một trung úy chỉ huy, tôi đã quên tên. Ông này là người Bắc, nhỏ con nhưng rất nhanh nhẹn, ăn nói thực thà, dễ có cảm tình, gia đình ông này ở Cái Sắn.

Tôi đang thiếu quân giữ an ninh phía sau lưng, nên vui vẻ nhận lời của ông Tỉnh trưởng, rồi giao cho đại đội của Long-An phòng thủ nửa phần hướng Tây phi trường, còn đại đội của Bình-Long phòng thủ nửa phần hướng Ðông, tiếp giáp với Biệt Ðộng Quân.

Ðể khép kín vòng đai phòng thủ tuyến, tôi cho một tiểu đội Ðịa Phương Quân của Bình-Long và một tiểu đội Biệt Ðộng Quân đóng quân chung trên một cái chốt chặn ngay đầu con hẻm đất nằm giữa hàng rào căn cứ 181 Pháo Binh và tường đất bao quanh Bộ Tư Lệnh và hậu cứ Trung Ðoàn 43 Bộ Binh.

Tôi hỏi thăm các chị vợ lính Pháo Binh rằng có đơn vị bạn nào hoạt động ngoài vòng đai không, thì các chị nói không.

Tôi hỏi ông Trung úy đại đội trưởng đại đội Ðịa Phương Quân Bình-Long về tình hình bạn và địch ở ngoài kia, ông ta cũng không biết gì.

Theo tôi thì địch chỉ có thể tấn công phi trường Xuân-Lộc bằng hai đường, một là từ hướng Ðông Nam, hai là từ hướng chính Ðông.

Nếu tiến từ Ðông Nam thì địch có lợi thế là đường đi rộng thênh thang, rất thuận tiện cho cơ giới và đại quân bộ chiến tiến hàng ngang. Nhưng theo hướng này thì phải dùng Quốc Lộ 1 chắc chắn sẽ dễ bị lộ, dễ làm mồi cho không quân oanh kích.

Mặt khác, ngay trên ngã ba Quốc lộ 1, muốn vào Xuân-Lộc, địch phải vượt qua xã Bảo Ðịnh là một thành đồng chống Cộng của dân Công-Giáo.

Qua cái tiền đồn này, còn phải vượt hai cây số hương lộ cùng ba cây cầu nữa mới tới đầu phi trường Xuân-Lộc.

Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đang ở ngay bờ Bắc của cây cầu thứ ba.

Còn tiến từ chính Ðông thì có nhiều lợi thế hơn về mặt chiến thuật.

Tôi thấy trên bản đồ thì, vùng Ðông Nam của Thành phố Xuân-Lộc có một con lộ đất, con lộ này bắt nguồn từ khu vực rừng lá dưới chân núi Chứa Chan.

Xem thêm:   Mặt trận Đông Nam – Xuân-Lộc 1975 (kỳ 4)

Ra khỏi rừng, và sau khi len lỏi qua những đồn điền cao su và vườn chuối, vườn xoài, thì con lộ đất này đâm thẳng vào một ngõ hẻm.

Ngõ hẻm này ở ngay đầu phi trường, chỗ tôi đặt cái chốt hỗn hợp của Biệt Ðộng Quân và Ðịa Phương Quân.

Thế là, chiều ngày 7 tháng Tư tôi cứ đi đi, lại lại nhiều lần trên con hẻm này.

Dưới mắt tôi, một người lính nhà nghề, một người từ khi vừa lên lớp Ðệ Thất đã thuộc nằm lòng “Tôn Ngô Binh Pháp” thì con lộ đất này ví như một lưỡi dao găm kề cổ thị trấn Xuân-Lộc.

Muốn giết Xuân-Lộc, chỉ cần một cú đâm cực nhanh, cực mạnh, xuyên qua con hẻm dài chưa tới hai trăm thước này, rồi cho lưỡi dao lách về bên phải thì trái tim của thành phố sẽ bị mũi dao đó đâm xuyên qua ngay.

Tôi ước tính, nếu một đoàn chiến xa T54 mà xuất phát từ điểm mà tôi đang đứng, thì chỉ ba phút sau chúng đã có mặt trong sân Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh và Tòa Hành Chánh tỉnh Long-Khánh rồi!

Dinh cơ của Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh chính là trái tim của thị trấn Xuân-Lộc. Nơi đó có Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn, sau lưng Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn là chỉ huy sở và hậu cứ của các đơn vị giữ nhiệm vụ phòng thủ Xuân-Lộc.

Nếu Bộ Tư Lệnh mà bị chiến xa Cộng-Sản chiếm giữ, thì các đơn vị phòng thủ trong vòng đai của Bộ Tư Lệnh sẽ bị địch đánh từ phía sau; trước mặt họ là bờ đất cao, cùng rào kẽm gai chằng chịt, đầy mìn bẫy, không đường thoát chạy. Chiến đấu trong tình thế này chắc chắn họ sẽ bị tiêu diệt.

Cũng trong tình huống ấy, tòa hành chánh cũng sẽ bị địch uy hiếp, các đơn vị Ðịa Phương Quân và Cảnh Sát Dã Chiến của Long-Khánh sẽ trở thành rắn mất đầu.

Tôi không hiểu tại sao yếu điểm này lại không có người canh gác hay rào giậu.

Chợt mắt tôi nhìn thấy dọc theo lề đường có những cái hố trũng với lá khô phủ lên trên, hố này cách hố kia chừng năm thước. Tôi tò mò cào lá khô sang bên thì phát giác ra đó là những hố mìn chống chiến xa, có tất cả mười trái mìn đã được gài. Chắc những quả mìn này mới được chôn cách đây không lâu nên chưa bị cát sạn che lấp vì mưa gió.

Tôi giật mình khi thấy trên lưng những quả mìn này chỉ là những lỗ tròn trống rỗng! Không quả mìn nào còn ngòi nổ cả!

Chắc lực lượng phòng thủ thấy bãi mìn của họ nằm sát phi trường, nên không cần cho người canh giữ. Nhưng nào có ai hay? Quân trinh sát của Cộng-Sản đã khôn ngoan lẻn vào gỡ hết ngòi nổ của mìn mà vứt đi rồi!

Chắc chắn chiến xa của chúng sẽ dùng con hẻm này để thọc sâu vào giữa phòng tuyến của Việt-Nam Cộng-Hòa.

Tôi đoan chắc điều này chỉ vì tôi nghĩ rằng nếu họ tấn công bằng bộ binh, thì họ không cần cho lính trinh sát mạo hiểm len lỏi vào đây gỡ đi những cái ngòi nổ.

Nay ngòi nổ đã được gỡ, nhưng mìn thì vẫn còn, tức là địch đã tương kế tựu kế để đánh lừa người giăng bẫy.

Người đặt mìn, nếu có bỏ công rà soát lại, cũng lười biếng, không lật lá khô lên kiểm soát xem ngòi nổ có còn hay không? Rồi cứ tưởng mìn còn đó, chiến xa địch chạy vào thì mìn nổ. Ðâu ngờ mười quả mìn giờ này đã thành vô dụng không khác gì mười cục gạch!

Vừa phát giác ra mười quả mìn không còn ngòi nổ thì tôi chột dạ, vội vàng gọi Thiếu úy Phạm Văn Thủy đem theo một tiểu đội bảo vệ rồi đi ra ngoài vòng đai doanh trại để thám sát địa thế vùng xung quanh.

Ði giữa lòng con lộ đất, một bên là tường đất cao nghệu của hệ thống phòng thủ quanh Bộ Tư Lệnh, một bên là hàng rào tre đực của căn cứ 181 Pháo Binh, tôi có cảm tưởng đang đi trong Lạc Phụng Ba của Phụng Sồ thời Tam Quốc!

Ra khỏi con lộ đất, tôi tiến vào một vùng lòng chảo cỏ tranh cao quá đầu người hướng chính Ðông của doanh trại. Tiếp tục theo đường, là vườn xoài, rừng chuối ngút ngàn, rồi con đường bị cỏ tranh che phủ, không còn rộng nữa.

Xem thêm:   Mặt trận Đông Nam – Xuân-Lộc 1975 (kỳ 2)

Chợt mắt tôi thấy thấp thoáng hình như có những cột mốc cắm thành hai hàng song song, hàng này cách hàng kia chừng bốn thước, như dấu mốc mà Công-Binh Bắc-Việt đã đánh dấu để phóng đường cho xe đi trong tương lai.

Tôi rẽ cỏ tranh bước tới gần, thì đúng là địch đã cắm mốc! Cột mốc là một khúc nứa, cao cỡ ba mét, mỗi ngọn cột đều buộc một mảnh vải tai nheo màu xanh, đỏ, tím, vàng rất dễ nhận ra!

Tôi nhớ lại, cuối năm 1973, Công-Binh Việt-Cộng cũng đã đánh dấu một con đường như thế này nối dài từ thung lũng Ia Drang tiến về vùng 10 cây số Bắc Pleime; cây lớn mọc trên mặt đường có đánh dấu đều bị cưa nửa vời.

Tới tháng Tư năm 1974, khi triển khai chiến dịch, chiến xa địch chỉ cần chạy ngay giữa hai hàng mốc thì những cây cối này sẽ gãy ngay, xe tank cứ thế, đè lên cây mà lao tới.

Như thế thì trong tương lai, nếu có chuyện đánh nhau, chắc chắn con đường đã đánh mốc này sẽ được địch dùng cho chiến xa tiến vào vùng Ðông Nam của thị xã.

Từ bìa rừng, quay đầu nhìn lại, tôi thấy hệ thống tường đất cao với nhiều lớp rào phòng thủ dư sức ngăn cản chiến xa; như vậy, muốn vào thị xã, xe tank của địch bắt buộc phải dùng con hẻm độc đạo bên rào Trại 181 Pháo Binh.

Muốn chặn chúng lại, ta chỉ còn cách duy nhất là thắt nút ngõ hẻm này bằng mìn chống chiến xa và thép gai vòng loại concertina.

Nhưng để cho chắc ăn, tôi vẫn tiếp tục dẫn quân đi vòng quanh rào để thăm dò thêm. Tôi thấy mặt Ðông Nam của căn cứ là một dải đất sình lầy, tiếp giáp với bờ suối; khu vực đất thấp này bộ binh di chuyển còn khó khăn, chắc chắn chiến xa không thể vượt qua được.

Sau khi hoàn tất công tác thám sát địa thế, về tới cổng trại, tôi mới nghĩ lại, thật là may mắn cho tôi, đêm qua địch chưa đánh!

Ðêm qua, tôi chưa chuẩn bị, mà địch ra tay thì chắc chắn đơn vị tôi tan tành rồi.

Tôi cấp tốc gọi cho Ðại tá Tỉnh trưởng cho xe đón tôi vào để báo cho ông một phát giác thật quan trọng.

Sau khi nghe tôi trình bày chi tiết những gì vừa chứng kiến, ông Ðại tá vỗ vai tôi rồi hối thúc,

– Lẹ lên! Lẹ lên! Chú lấy một chiếc Dodge rồi chạy xuống Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận Tiểu Khu lấy tất cả những gì chú cần! Mau lên! Mau lên!

Sau hai chuyến chuyển vận, tôi nhận được mười lăm cuộn concertina, hai chục khẩu M72 và trên một chục quả mìn chống chiến xa.

Ba toán Viễn Thám đã lãnh 6 khẩu M72 rồi; số còn lại tôi chia đều cho các đại đội. Mỗi đại đội đều có ba toán chống tank do chính tay tôi huấn luyện trong thời gian phòng thủ Kiến-Ðức.

Thực ra thì chúng tôi bắn XM 202 giỏi hơn M72. Gần nửa năm trấn thủ Kiến-Ðức, kho đạn của Tiểu Khu Quảng-Ðức có bao nhiêu XM 202 đều bị tôi trưng dụng hết.

Súng chống tank hữu hiệu nhứt là XM202 với đạn màu đỏ, tức là đạn khói, đạn lân tinh. Trúng đạn lân tinh, xe tank sẽ cháy ngay. Còn bắn đạn với liều thuốc lõm màu đen thì chỉ làm cho nó đứt xích hay lủng bộ phận phun khói sau lưng; bắn ngang hông cũng có hy vọng; còn bắn trúng pháo tháp T54 thì coi như “gãi ngứa” cho nó mà thôi.

Thế là từ chiều cho tới tối, hai ông Thiếu úy Ðặng Thành Học và Phạm Văn Thủy phải nhịn đói, vất vả căng kẽm gai và moi lỗ gài mìn trên con hẻm. Mười quả mìn mới có ngòi, nằm đè lên mười quả mìn cũ đã bị Việt-Cộng tháo ngòi, thế là mình có mười lỗ mìn đôi. Nếu dính một lỗ mìn đôi, chắc chắn chiếc T54 cán mìn sẽ banh xác!

Công việc thiết trí trận địa của tôi coi như đã hoàn tất.

Và tôi có thể yên tâm là, từ tối ngày 7 tháng Tư năm 1975, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi đã ở trong tư thế sẵn sàng đương cự với bất cứ địch thủ nào.

(còn tiếp)