Vào thế kỷ 19, nhà lãnh đạo Trung Quốc Mao Trạch Đông có nói: “Phụ nữ gánh nửa bầu trời – Women hold up half the sky”, để ca tụng, tôn vinh phụ nữ.

Ngạn ngữ tây phương có câu: “Men make houses, women make homes – Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”.

Và ngay cả xứ Trung Đông, người ta cũng hết lời ca ngợi “A home without a woman is like a body without a soul – Ngôi nhà không có đàn bà như một thể xác không có linh hồn”.

Nhưng, trong thực tế thì không đúng như thế mà lại trái ngược với những lời tán tụng, khen tặng này.

Dưới chế độ phụ quyền, sự bất công giữa nam giới và nữ giới đã ăn sâu vào cách nhìn nhận giá trị con người bằng những quy định trong xã hội. Người đàn ông được coi là trung tâm quyền lực của gia đình, có học thức, giáo dục, nghề nghiệp. Trong khi người đàn bà bị quản thúc và giới hạn trong những vai trò “truyền thống” như một thước đo, một chuẩn mực khắc khe về đạo đức và hành vi.

Trong gia đình, người phụ nữ phải “Tam tòng, Tứ đức”, phải chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái, nhưng “công sức lao động” này thường không được thừa nhận hay trả công ơn xứng đáng mà còn bị khinh miệt là kẻ ăn bám, vô tích sự.

Gia đình là nền tảng để xây dựng nên cộng đồng xã hội. Những bất công trong việc phân biệt giới tính không chỉ làm kìm hãm sự phát triển tài năng của phụ nữ mà còn làm nghèo đi tiềm năng của xã hội vì “một nửa” đã bị hạn chế, không được tự do để phát triển một cách toàn diện.

Qua nhiều thời kỳ và ở nhiều nền văn hóa khác nhau, những phụ nữ tiền phong đã cầm bút mở đường để góp phần hình thành một nền tảng tư tưởng cho phong trào nữ quyền hiện đại. Di sản của họ là sức mạnh giúp phụ nữ thức tỉnh, không chấp nhận số phận bị áp bức, bị kìm chế, bị tù hãm, mà viết lên để đấu tranh giành lại quyền tự do, bình đẳng, được yêu thương và tôn trọng.

Trên thi đàn văn học Việt Nam, có nữ sĩ Hồ Xuân Hương (1772 – 1822) đã làm các bài thơ Nôm ẩn dụ và châm biếm để phản kháng “chế độ phụ quyền” thời phong kiến. Bà đã phê phán xã hội, phơi bày sự bất công trọng nam khinh nữ và thương cảm cho phận nữ nhi bị áp bức, đè nén, ràng buộc trong những gông cùm của luật lệ, định kiến, như trong bài “Bánh Trôi nước”…

Tượng Hồ Xuân Hương ở Đà Nẵng – nguồn: wikipedia.org   

Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son

Vào thời phong kiến, phận đàn bà, con gái thì “khuê môn bất xuất”, còn các vua quan thường có “năm thê, bảy thiếp” nhưng “Gái chính chuyên chỉ có một chồng”. Nhà thơ đã cay đắng thốt lên…

Xem thêm:   Khi đàn ông rửa chén

Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương trải qua 2 đời chồng nhưng không hạnh phúc. Là một phụ nữ tài sắc, nhưng buồn khổ thay, bà đều phải làm vợ lẽ, chịu đựng cuộc sống hôn nhân không như ý. Lời thơ, ý thơ của bà đã phản ảnh tâm tình của một người phụ nữ mạnh mẽ, luôn khao khát vươn lên thoát khỏi số phận bị áp đặt trong một xã hội bị thống trị bởi đàn ông.

Qiu Jin (1875–1907), nữ thi sĩ, một nhà cách mạng đấu tranh cho nữ quyền người Trung Quốc. Bà là người phụ nữ tiền phong trong phong trào chống nhà Thanh, đòi quyền bình đẳng giới tính, phản đối tục bó chân và cưỡng ép hôn nhân. Bà kêu gọi phụ nữ trau giồi kiến thức, đòi quyền đi học và làm việc.

Qiu Jin – nguồn: wikipedia.org

Qiu Jin sinh ra trong một gia đình giàu có, được hưởng nền giáo dục hiếm hoi đối với phụ nữ thời bấy giờ. Không hạnh phúc với cuộc hôn nhân “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, bà đã rời bỏ chồng con vào năm 1904 để du học tại Nhật, nơi bà tham gia các nhóm cải cách cấp tiến như Hội Phục Hưng và Đồng Minh Hội. Trở về Trung Quốc, bà đồng sáng lập tạp chí Phụ Nữ Trung Quốc ở Thượng Hải và là hiệu trưởng trường Đại Đồng, nơi bí mật đào tạo các nhà cách mạng.

Năm 1907, cuộc nổi dậy thất bại, bà Qiu Jin bị bắt, bị tra tấn và chém đầu. Bài thơ cuối cùng “Gió thu, Mưa thu – Autumn Wind, Autumn Rain” và “Niềm đau cho người ngã xuống – Sorrow for the Fallen, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm hy sinh và nhiệt huyết cách mạng của bà.

Ngôi nhà cũ và lăng mộ gần Hồ Tây, Hàng Châu thuộc tỉnh Chiết Giang, cùng với những hình ảnh của bà Qiu Jin đã trở thành di tích lịch sử. Chính phủ Quốc Dân đảng và ngay cả đảng Cộng Sản đều tôn vinh bà là một “Nữ hiệp” của Trung Hoa hiện đại.

Xem thêm:   New York - Paris / London 3 giờ 30 phút!

Kate Chopin là một nhà văn tiên phong, đã dùng ngòi bút để phản kháng những khắc khe của chế độ phụ quyền ở Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ 19.

Kate Chopin – nguồn: wikipedia.org

Kate Chopin (1851 – 1904) sinh tại St. Louis, Missouri. Mẹ là người gốc French-Creole, cha là người di dân gốc Ái Nhĩ Lan. Kate Chopin lớn lên trong “Chế độ phụ quyền” chứng kiến bao thế hệ phụ nữ bị “nam giới thống trị”. Từ thời bà cố ngoại, đã có nhiều truyền thuyết về người Pháp đặt bước chân đầu tiên đến St. Louis, những “huyền thoại” này đã ảnh hưởng nhiều đến truyện ngắn của bà với đầy đủ màu sắc, hương vị, âm thanh của dân Creole (1) và Acadian (2).

Những câu chuyện của bà viết hầu hết về những phụ nữ đã miệt mài, buồn khổ đi tìm kiếm tự do dưới sự cai quản của đàn ông và bà được mệnh danh là người tiên phong dám viết lên tiếng nói và tâm tình của những phụ nữ bị hà hiếp thời đó.

Bà đã viết hơn 100 truyện ngắn, rất nhiều truyện đã được xuất bản 2 lần như: Bayou Folk  và  A Night in Acadia.

Hai cuốn: At FaultThe Awakening, đã gây tranh cãi gay gắt về vấn đề ly dị và ngoại tình. Bị bài bác như một kẻ vô luân, vô đạo đức, “The Awakening – Thức Tỉnh” đã làm dư luận sôi nổi, phản kháng kịch liệt khiến Kate Chopin rơi vào tâm trạng buồn chán, thất chí, bà viết rất ít vào khoảng 5 năm cuối đời.

Khi lên 5 tuổi, cha của Kate Chopin là Thomas O’Flaherty – một thương gia giàu có qua đời vì tai nạn ở đường rầy xe lửa. Nỗi buồn mất cha đã đeo đẳng theo bà suốt cuộc đời và là mấu chốt cho câu chuyện “The story of an hour – Niềm vui chỉ một giờ”.

Bà đã viết lên vai trò của phụ nữ qua cuộc đời của những người trong gia đình. Mẹ, bà ngoại và bà cố đều chọn là quả phụ sau khi chồng qua đời, họ cảm thấy được sống tự do, hạnh phúc hơn là tiến thêm bước nữa. Nhận thức và mong muốn được tự do, độc lập của phụ nữ thời đó đã ảnh hưởng sâu đậm trong nhiều tác phẩm của Kate chopin.

Xem thêm:   Chợt thèm tô canh rau đắng

Cuốn tiểu thuyết “Women Without Men – Đàn bà không lệ thuộc đàn ông” của Shahrnush Parsipur bị cấm ở Iran, nhưng đã được đề cử vào danh sách dự giải Booker Quốc Tế (International Booker Prize) năm 2026 tại Anh Quốc.

Shahrnush Parsipur. nguồn: latimes.com

Bà Parsipur 80 tuổi, là một nhà văn đương thời được ngưỡng mộ và ca ngợi ở Iran – Ba Tư. Vào thập niên 1980, viết những chủ đề táo bạo, độc đáo khiến thần quyền của Cộng Hòa Hồi Giáo đã ra lệnh giam cầm bà suốt 5 năm không xét xử, không chính thức buộc tội.

Vào năm 1989, 3 năm sau khi được thả, bà viết cuốn “Touba and the meaning of night – Touba và ý nghĩa của đêm đen” “Women Without Men”. Những cuốn sách này đã trở thành một vũ khí lợi hại, thôi thúc sự trỗi dậy đòi tự do của phụ nữ Ba Tư. Parsipur bị giam cầm lần nữa vì đã dám dùng ngòi bút “vẽ vời” về tình dục, trinh tiết để lên án chế độ thần quyền đã áp đặt và tước đoạt quyền tự do của phụ nữ. Tệ hại hơn nữa là những người đàn ông đã khinh thường đàn bà, coi họ như những vật nuôi, nô lệ hay “đất” để vun trồng, để giải quyết ham muốn về tình dục.

Hơn 20 năm qua, bà Parsipur sống lưu vong trong một cộng đồng người Ba Tư gần San Francisco, USA. Bà vẫn giữ lối sống truyền thống và chỉ gặp đồng hương, bà ít khi nói tiếng Anh, vẫn đón năm mới Nowruz (Tết cổ truyền của Ba Tư khoảng 20 – 21 tháng 3 vào lúc Xuân phân) với bữa ăn Haft- Sin (mâm cỗ trong dịp Tết).

Những năm gần đây, bà Parsipur đã ngưng viết, vì cho rằng khi xa quê hương, suy nghĩ và ý tưởng dần phai nhạt, không thể viết những gì mới mẻ đang xảy ra ở đó. Bà Parsipur luôn hy vọng phụ nữ Ba Tư sẽ thay đổi, sẽ vùng lên đấu tranh giành tự do, thoát khỏi bạo quyền của chế độ Thần giáo, vào một ngày đẹp trời.

 GVV

(1) Creole – là người sinh ra ở nước thuộc địa, pha trộn nhiều chủng tộc mang gốc Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Phi châu dân bản địa Mỹ. Họ sống phần lớn ở Louisiana, Hoa Kỳ.

(2) Acadian – là Người Pháp, từ thế kỷ 17 di cư sang vùng Acadia (nay thuộc miền Đông Canada). Năm 1755, người Pháp bị người Anh trục xuất khỏi Acadia, họ di cư đến Louisiana.