Phạm Nghị
(Năm ngựa, đọc chơi vài bài thơ ngựa)
Trên cánh đồng hoang thuần một màu,
Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi
Tàu chạy mau mà qua rất lâu.
Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu.
Cỏ cây, cỏ cây lùi chóng mặt.
Gò nổng cao rồi thung lũng sâu.
Ngựa thở hào hển, thở hào hển.
Tàu chạy mau, vẫn mau, vẫn mau.
Mặt trời mọc xong, mặt trời lặn.
Ngựa gục đầu, gục đầu, gục đầu.
Cánh đồng, a! cánh đồng sắp hết.
Tàu chạy mau, càng mau, càng mau.
Ngựa ngã lăn, mình mướt như cỏ,
Chấm giữa nền nhung một vết nâu.
1956

Bảo Huân
Đây có thể là bài thơ đầu tiên của Tô Thùy Yên (1938-2019), một thi sĩ kiệt xuất của nền thi ca Miền Nam Việt Nam, sáng tác khi ông 18 tuổi, với nhan đề “Cánh đồng con ngựa chuyến tàu”. Về sau, khi ra ngoài nước, ông đã chọn bài thơ này để đọc trước cử tọa phương Tây trong một buổi “hội thơ”, chứ không chọn một thi phẩm xuất sắc nào khác của mình như “Ta về” hay “Chiều trên phá Tam Giang”.
Bài thơ đã được các nhà phê bình (như Đặng Tiến, Thụy Khuê, Thi Vũ, Du Tử Lê…) giải thích theo nhiều chiều hướng khác nhau (như là cuộc đua giữa Đông phương thảo mộc và Tây phương cơ giới, sự va chạm giữa không gian và thời gian, giữa hữu hạn và vô hạn…)
Dù giải thích cách nào thì bài thơ, theo thi sĩ Du Tử Lê, cũng là một bức tranh sống động vẽ bằng… ngôn ngữ. Sức sống động mạnh mẽ tới độ, chúng cho ta cảm tưởng tác giả đã chụp được một bức ảnh thời gian…, với những nhịp đi gập ghềnh; một cuộc rượt, đuổi với tốc độ khiến ta đọc mà gần như hụt hơi, dẫn tới kết quả là những hơi thở “hào hển” hoặc, “gục đầu”… như con ngựa.
Hơn hai trăm năm trước đó, trong Truyện Kiều, ngọn bút tài tình của Nguyễn Du đã dùng những điệp tự kh, g, gh và âm điệu trúc trắc để vẽ được những bước đi khó nhọc của con ngựa và bánh xe trên con đường mấp mô, lởm chởm:
Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.
Trước ông, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã dịch câu thơ bằng Hán văn trong tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn:
Tây phong minh tiên xuất Vị kiều (Gió thu vẳng tiếng roi ngựa ra cầu sông Vị)
thành một câu thơ trác tuyệt:
Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu
Ở đây ta không thấy người, không thấy ngựa, nhưng câu thơ đã “vẽ” lên được hình ảnh người tráng sĩ áo đỏ tựa ráng chiều, cỡi con ngựa bạch, trên đường xuất quân, giữa cảnh trống trận vang rền làm lung lay cả ánh trăng và khói đuốc làm mờ mịt cả làn mây trắng; tiếng thét, tiếng quất roi đầy uy lực trên lưng ngựa phi như bay ra chiến trường, để lại phía sau tiếng gió ào ào rung chuyển rừng đầy lá thu…
Thế rồi, sau buổi xuất quân “hùng tráng” đó, cũng là ngày chia ly rất đỗi bi thương, người chinh phụ ra về, mỏi mòn chờ đợi người chồng trở lại mái nhà xưa. Nhưng thực tế rất phũ phàng:
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi!
(Xưa nay chinh chiến mấy ai về?)
Nàng sợ đến nỗi không dám tự mình đăm đắm dõi theo bóng ngựa của người về mà phải nhờ đến cô em. Nhà thơ Thanh Tịnh (1911-1988) đã thuật lại lời đối đáp của hai chị em trong bài “Mòn mỏi” với một giọng thơ êm đềm như sương khói, với một kết cục đầy bi thương:
– Em ơi nhẹ cuốn bức rèm tơ
Tìm thử chân mây khói toả mờ
Có bóng tình quân muôn dặm ruổi
Ngựa hồng tuôn bụi cõi xa mơ.
– Xa nhìn bên cõi trời mây,
Chị ơi em thấy một cây liễu buồn.
– Bên rừng em hãy lặng nhìn theo,
Có phải chăng em ngựa xuống đèo?
Chị ngỡ như chàng lên tiếng gọi
Trên mình ngựa hí lạc vang reo.
– Bên rừng ngọn gió rung cây,
Chị ơi con nhạn lạc bầy kêu sương.
– Tên chị ai gieo giữa gió chiều,
Phải chăng em hỡi tiếng chàng kêu?
Trên dòng sông lặng em nhìn thử?
Có phải chăng người của chị yêu?
– Sóng chiều đùa chiếc thuyền lan,
Chị ơi con sáo gọi ngàn bên sông…
Ô kìa! Bên cõi trời đông
Ngựa ai còn ruổi dặm hồng xa xa.
– Này lặng em ơi, lặng lặng nhìn
Phải chăng mình ngựa sắc hồng in?
Nhẹ nhàng em sẽ buông rèm xuống,
Chị sợ trong sương bóng ngựa chìm.
– Ngựa hồng đã đến bên yên,
Chị ơi, trên ngựa chiếc yên… vắng người.
PN








