“…Chỉ là những câu chuyện vụn vặt được chắp nối qua những mảnh đời dân quê miệt kinh rạch hầu san sẻ cùng bạn trẻ, những người chưa hoặc không có dịp sống gần gũi với dân ruộng về các miền kinh rạch ấy như một nét đặc thù của văn minh Việt bên cạnh một nếp “văn minh miệt vườn” khá sung túc, trù phú…” (Hai Trầu Lương Thư Trung).
Luôn tự nhận mình là một “người nhà quê”, nhưng ai cũng hiểu là cách nói khiêm cung của một học giả, kiến thức quảng bác, như bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trìu mến nhận định “Nó là văn chương miệt vườn. Sau này muốn biết về miền Nam mưa nắng hai mùa ra sao thì phải đọc Sơn Nam và Hai Trầu thôi.”.
Mời bạn cùng chúng tôi dạo chơi cùng mưa nắng miền Nam…

(tiếp theo)
“Huynh đệ như thủ túc. Phu phụ như y phục. Y phục phá thì cánh đắc tân. Thủ túc đoạn thì nan tái tục”.
Hồi xưa, cụ Trương Vĩnh Ký dịch nghĩa như thế này chú Ba à: “Thầy Trang Tử rằng: Anh em như thể tay chơn, vợ chồng như thể áo mặc; áo mặc rách ấy đổi được áo mới, tay chơn đứt ấy khó lại liền”. Thành ra, anh em mình phải đùm bọc nhau chú Ba à. Đùm bọc không phải là chỉ giúp nhau mà còn là tình thương yêu máu thịt không rời dù xa cách ngàn trùng vạn dặm quan san cách trở. Tui nhớ chú lắm!!!
Lá thư viết tới đây, tui lại nghe sắp nhỏ la làng trên truyền hình là ở bên chú hai chiếc máy bay hành khách bị không tặc cướp, rồi đâm bổ vô hai tòa nhà cao tầng nhứt nước Mỹ ở Nữu Ước, làm sập đổ tan hoang, giết hại biết mấy ngàn người vô tội vào sáng ngày 11 tháng 9 năm 2001 này. Hai chiếc máy bay nữa cũng bị không tặc cướp vào ngày tang tóc này, một rơi xuống vùng Pensylvania, làm chết hết trơn hành khách trên đó; một đâm bổ vào Ngũ Giác Đài, làm thiệt mạng hàng trăm người, chưa kể số hành khách trên máy bay định mạng này chết không kịp một lời trăng trối.
Nghe những hung tin như vậy trên tivi, tui bủn rủn tay chân chú Ba à! Nhiều lúc nghĩ lại “Kiếp Người” mà tui có lần tìm lại cuốn sách cũ của William Somerset Maugham để đọc trong tủ sách mà chú gìn giữ từ nhiều năm, tui mới sực nhớ “Kiếp Người” bây giờ còn ghê gớm hơn trước những hãm hại kinh hoàng giữa những con người với con người sống trong thế kỷ 21 này! Điều đáng sợ là mình không biết ai là người thiệt, ai là người giả đứng gần bên mình. Thế mới khổ!
Bây giờ, ở đây, nơi đồng không mông quạnh này, giữa trời nước bao la của mùa lũ lụt, trên có Trời cao, dưới có nước rộng tràn bờ, tui chỉ biết van vái cho Trời Phật, Thánh Thần, các đấng thiêng liêng ban cho loài người sự sống an vui, thanh bình. Và cầu nguyện cho linh hồn các nạn nhân của vụ khủng bố vừa rồi sớm siêu thoát ở một miền không còn thù hận, không còn giết chóc lẫn nhau nữa.
Tui thăm chú thím và sắp nhỏ mạnh giỏi.
Cuối thơ,
Hai Trầu

nguồn luxembourg Time
Sách xưa khó kiếm
Kinh Xáng Bốn Tổng ngày… tháng… năm 2001
Chú Ba sắp nhỏ,
Hôm rồi, tôi có viết cho chú lá thơ thăm sắp nhỏ cùng chú thím mạnh giỏi. Gởi lá thơ đi rồi, tôi mới sực nhớ còn thiếu mấy hàng thăm chú thím Út bên ấy nữa. Vậy hôm nào tiện dịp chú có ghé lại nhà vợ chồng chú Út, chú nói lại giùm anh Hai có lời hỏi thăm gia đình chú ấy mạnh khỏe luôn thể. Riêng tôi và chị Hai chú cùng sắp nhỏ bên nhà vẫn thường, mặc dù nước năm nay coi mòi lớn không thua gì năm rồi.
Cái bờ vườn thấp chủn với mấy bụi chuối lá xiêm nằm cặp bên đám sậy trổ cờ đã xuống màu vàng, vì bị mấy con sùng đục rễ. Loài chuối lá xiêm này coi vậy mà kỵ giống sùng nhe chú. Đặc biệt loài côn trùng này dù phá hại chuối lá vậy chớ cũng có công dụng trong việc tiên đoán thời tiết nắng mưa, nhất là dân quê mình cần lắm. Hồi anh em mình còn nhỏ, các anh con của bác Tư hay bắt con sùng rồi lật cái đít lên, nếu tháng nào đít con sùng đen thì trời sẽ mưa thúi đất; còn tháng nào đít con sùng mà trắng thì trời sẽ khô ráo. Vậy mà linh ứng lắm nhe chú, ít khi trật và bà con mình dựa vào đó để lo mùa màng rẫy bái cho kịp mùa vụ.
Ở nhà quê mình dù dốt nát quê mùa nhưng cũng biết rút kinh nghiệm qua trời đất thiên nhiên mà đoán thời trời để kịp tiến thoái. Lúc trăng còn non thì nhìn xem lưỡi liềm cất cao về bên mặt hay bên trái mà xem giá lúa lên hay hạ. Đầu lưỡi liềm bên mặt cất cao thì giá lúa y như rằng sẽ tăng; bằng ngược lại, giá lúa lại sụt. Còn trăng nằm ngang, không cao, không thấp, lúa sẽ bình giá. Hoặc giả, trời đang nắng như lửa đốt, cua lại bò lên khô, thế nào không sớm thì muộn trời sẽ đổ cơn mưa đầu mùa. Do vậy mà ta chuẩn bị việc cày bừa sạ tỉa là vừa, nếu không kẻo trễ. Còn năm nào kiến lửa dưng không lại bò lên nóc nhà, gò cao thế nào năm đó mùa nước sẽ ngập lụt lớn lắm. Đại khái, các giống côn trùng chung quanh mình đôi lúc cũng giúp mình trong việc rẫy bái bộn. Còn nhiều lắm, kể không xiết.
Chú có còn nhớ có lần Đức Khổng Tử nói với Tử Cống là “Thiên hà ngôn tai” không? (*)“Trời đất có nói gì đâu”, nhưng trời đất muốn mưa hay nắng dường như có cho mọi người hay biết trước ráo trọi. Thế cho nên, sống trong trời đất mà mình coi thường cái lẽ của trời đất là èo uột lắm.
À, nói thì nói vậy, nhưng cũng còn một số người vẫn tối mù tối mịt, mê tín dị đoan dữ lắm. Hôm trước, nước nôi quá, không làm nghề ngỗng gì, tôi có biểu sắp nhỏ bơi xuồng qua cù lao Ông Chưởng thăm cô Tư, thì mới biết vụ ông đạo Tuấn dùng bùa mê dụ dỗ con gái hãm hại rồi giết chết, cắt đầu luyện “thiên linh cái”. Số là ông đạo này ở xã Tân Huề, cũng dân ruộng thôi, dưng không nổi lên làm thầy bùa, xưng là ông Đạo, trừ ma giải độc, rồi mới ra cớ sự.
Hồi trước cù lao Ông Chưởng có 3 xã Tân Huề, Tân Quới, Tân Long, rồi sau này mới thêm 2 xã nữa là Tân Bình, Tân Thành mà thành 5 xã nằm trên sông Tiền, thuộc quận Thanh Bình, tỉnh Cao Lãnh ngày nay. Ông đạo Tuấn bèn cất cái chòi giữa lùm bụi, cách xa chòm xóm cho ra vẻ huyền bí, rồi mới bày ra bùa chú ếm cúng. Người già như tôi thì khó dụ khị, mà nếu có dụ được cũng chẳng ăn lộc thực gì vì mình già rồi, một cắc một đồng dính túi cũng không. Vậy mà rồi có người lại tin. Và hễ tin là bị hại. Một người đàn bà và hai đứa con gái vì muốn xin bùa để mua may bán đắt, vậy mà rồi bị tên gian tà này hãm hại và cắt đầu chôn không kịp trối với mưu đồ luyện bùa. Việc gì cũng vậy chú Ba à, hễ làm điều gian tà, trước sau gì rồi sẽ bị tai ách như chơi. Và ông Đạo gian này bị phát giác cái lòng tà dâm giữa vùng nước lụt ngập vườn ngập tược hồi tháng trước. Thiên hạ đang xôn xao bàn tán dữ quá.
Nhân vụ này, nhiều lúc tôi nghĩ mà buồn cho dân trí mình mãi tới thời đại này mà vẫn còn mê tín, dễ tin những điều viển vông ma quỷ. Mà ngay hồi xưa, lúc ông Nội mình còn sống, chuyện ma cỏ là chuyện kể mỗi đêm như ăn cơm bữa, nhưng ông Nội nhắc hoài câu nói của Đức Khổng Tử để trả lời Phàn Trí hỏi “Thế nào là trí?”: “Vụ nhân chi nghĩa, kính quỷ thần nhi viễn chi, khả vị trí hĩ” (*). Nhớ lúc ấy ông Nội cắt nghĩa “Chuyên tâm làm việc nghĩa giúp người, kính trọng quỷ thần nhưng phải tránh xa ra mới được, như vậy có thể gọi là trí.” Mà chắc chú còn nhớ hai chữ “quỷ thần” vốn là cái cõi u u minh minh, để nói cái lẽ huyền diệu của tạo hóa, có đó rồi biến ảo đó, chứ làm sao có quỷ thần thiệt mà tin đến thiệt mạng mình như 3 người đàn bà xấu số ở xã Tân Huề vừa qua. Phải hông chú Ba?
Chú Ba sắp nhỏ,
Hôm trước tới nay, tôi cũng theo dõi hoài tin tức về vụ cướp máy bay để gây ra cái chết cho hằng ngàn người không tội tình gì bên chỗ chú ở, làm tôi suy nghĩ lung lắm về cái chữ “nhân” trong loài người ngày nay. Việc thế nào là “nhân”? Thời kỳ văn minh tiến bộ như ngày nay chẳng lẽ lại biến loài người quên chữ “nhân” rồi sao? Chắc chú Ba sắp nhỏ còn nhớ Tía hay nhắc hoài câu chữ của Đức Khổng Tử mỗi sáng ngồi uống trà: “Cầu chí ư nhân hĩ, vô ác dã.”(*) Điều này, từ hồi nào đến giờ đã quá rõ nghĩa phải hông chú? Làm điều ác thì không còn đức nhân nữa!
Bây giờ, tôi xin trở lại việc nhà cùng mùa màng bên này. Nước năm nay ngập lút cánh đồng ngoài hè chạy tuốt lên Ba Thê, Núi Sập. Nhìn ba bên bốn bề đâu đâu cũng nước là nước trắng dã như cái biển. Từ trên hướng Chắc Cà Đao, lên Mặc Cần Dưng, rồi vô Vàm Xáng, Cần Đăng, Hang Tra, Vĩnh Hanh, từ xa nhìn thấy chỉ còn là những rặng tre lé đé nước gần tới đọt. Nước lớn dữ quá! May mà năm rồi tôi nâng cái nền nhà lên thêm vài ba tấc, nếu không thì bây giờ nước ngập lênh láng rồi. Ngồi đây mà nhớ chú, nhớ thằng Út hồi mấy năm còn ở nhà, vào mùa này, suốt ngày lênh đênh giữa đồng nước theo ba cái lưới cá mè vinh. Chú thì sở trường lưới cá linh. Chú Út sắp nhỏ lại giỏi nghề giăng lưới cá trắng. Cả hai anh em mỗi đứa mê thích một loại cá nhưng đều có tay nghề giỏi lắm. Hồi anh em mình nghèo, dang nắng dầm nước tay chưn lở lói, cực quá là cực, nhưng nhìn xuồng lưới về cá đầy khoang, đầy sạp là mừng húm. Nghĩ mà thương hai em có những ngày quá gian khổ với kiếp làm ruộng nghèo sống giữa vùng đức nhân bị suy suyển đi quá mạng. Anh bây giờ già rồi, nên việc cày bừa có sắp nhỏ lo, cho nên mỗi lần nhớ lại lúc mình làm trâu kéo cày trang chạc cho đất bằng mặt vào mỗi mùa sạ lúa là hai cặp giò mỏi rụng rời, hết muốn bước, lại thương em mình những năm tháng ấy vô cùng…
Tôi cũng nghe sắp nhỏ con chú vẫn không quên cô bác bên nhà, điều này rất mừng. Nước có nguồn, cây có gốc mà. Bông trái có được cũng là nhờ cái nguồn cội ấy mà ra. Cái lẽ trời đất vận chuyển không ra ngoài cái khởi đầu và cái kết quả cho mỗi phận người chú Ba à! Nhìn con người là biết trời đất vui hay buồn, sông núi thịnh hay suy, mùa màng trúng hay thất bát… Học hành giỏi giang mà quên cái lúc bắt ốc hái rau cũng chưa đáng là giỏi. Chữ nghĩa đầy bụng mà nói lời vô lễ, kiêu ngạo cũng chưa đáng là kẻ trí, người tài… Chẳng khác nào “Lúa mọc lên mà chẳng trổ bông. Trổ bông mà không thành hạt” theo như lời dạy của Đức Khổng Tử: “Miêu nhi bất tú giả, hữu hĩ phù! Tú nhi bất thực giả, hữu hĩ phù!”(*)
Lá thơ tới đây khá dài, nửa đêm nghe tiếng ếch kêu ngoài bờ vườn mà nghe lòng nhớ em út những ngày bơm nước chuẩn bị mùa màng quá mạng:
Ếch kêu, tiếng ếch không xa,
Nhớ em ta nhớ, mình ta ta buồn…
Thăm chú thím và sắp nhỏ mạnh giỏi. Hẹn chú lá thơ sau, anh sẽ viết cho mấy em, mấy cháu dài hơn…
Cuối thơ,
Hai Trầu
(*) Luận Ngữ và Minh Tâm Bửu Giám.
Lại năm Nhâm Ngọ
Kinh xáng Bốn Tổng ngày… tháng 02 năm 2002
Chú Ba sắp nhỏ,
Lật bật rồi sắp hết tháng Chạp, Tết nhất tới bên đít rồi chú Ba à. Tôi giựt mình lấy giấy mực ra ngồi viết cho chú lá thơ này, trước thăm chú thím cùng sắp nhỏ, sau biên cho chú hay vài ba tin tức anh em bên nhà nhân những ngày cận Tết. Tết là gì, thiệt tình dân quê như mình chỉ nghe người lớn nói vậy rồi nghe theo vậy, mà rồi truyền miệng với nhau, thành ra không ai thắc mắc tại sao có Tết và Tết là gì? Cứ gần giáp năm là lo Tết. Nhà nhà lo ăn Tết, không phân biệt chủ đất hay tá điền, đứa làm mùa hay người có ruộng, có trâu bò… Người lớn lo Tết, trẻ nhỏ mừng Tết. Cứ thế mà hết đời này tới đời khác nơi thôn quê chòm xóm mình xúm nhau ăn Tết… Và rồi, Tết là một cái lễ lớn ở nhà quê, ở chợ búa thị thành, là văn hóa của dân Việt… Không ăn Tết là buồn, buồn đến đứt ruột chứ chẳng phải chơi!
Thật ra, cái gì cũng có căn cơ hết chú Ba à. Nhứt là các vị kỳ lão trong làng hồi xửa hồi xưa như đời ông Nội mình, đời Tía mình, đời bác Bảy Hiển, các cụ đã nói cho con cháu biết thế nào là Tết rồi. “Tứ thời tiết lập” mà! Mùa nào thời có “tiết” nấy, không sai chạy được! Đầu năm Tết Nguyên Đán. Rằm tháng Giêng là Tết Thượng Nguyên. Mồng Ba tháng Ba Tết Hàn Thực cúng Giới Tử Thôi. Rồi cùng trong tháng Ba lại có tục tảo mộ lo sửa sang, quét dọn, đắp bồi mồ mả gọi là Tết Thanh Minh.
(còn tiếp)








