Giáng sinh và Tết Tây qua đi trong không khí lạnh giá, đèn hoa lấp lánh, tiếng nhạc rộn ràng vang lên trong những khu shopping, chợ, tiệm ăn… và ngay cả khu nhà nơi tôi ở.
Cộng đồng người Châu Á lại rộn rịp chuẩn bị đón Tết Nguyên Đán. Một trong những nét văn hoá mà những người ly hương luôn gìn giữ.
Ngày xưa, dù đất nước đang thời chinh chiến nhưng năm nào ba má tôi cũng chuẩn bị đón Tết Nguyên Đán thật chu đáo. Tôi mê nhất là đi chợ hoa với Ba tôi. Sau khi dạo một vòng, khác với phần đông mua hoa mai, mua cây quất chưng cho ngày Tết thì Ba tôi lại chọn thược dược, cúc vàng và đặc biệt luôn luôn có hoa vạn thọ.
Lúc nhỏ tôi không ưa hoa Vạn thọ vì mùi của nó hơi nồng mùi thuốc Bắc. Tôi không hiểu tại sao ba má tôi đều yêu thích loài hoa này. Tôi thầm nghĩ có lẽ ba má muốn cầu nguyện được sống vạn thọ, như cái tên của nó.
Ba tôi ít khi nào chờ đến chiều cuối năm mới mua hoa, nếu có dịp xuống chợ hoa lúc chợ tàn đêm Ba Mươi, ba tôi còn mua thêm, có lẽ Ba tôi cảm thương khi thấy những người trong quê chở hoa ra không bán được, buộc phải bán rẻ. Ba tôi lặng lẽ trả tiền đúng giá chứ không kỳ kèo, Ba hiểu rằng mua hoa Tết hạ giá là nụ cười của người được mua hoa nhưng lại là nỗi buồn héo hắt của người bán.
Bên cạnh việc mua sắm hoa Tết, Ba tôi rất chăm chút việc chưng bày bàn thờ Tổ Tiên. Những bộ lư đồng được Ba chở ra tiệm lau chùi sáng bóng. Hương trầm được tuyển chọn loại tốt. Đặc biệt Ba thường mua hương do các Chùa sản xuất chứ không mua hàng chợ.
Mỗi ngày đi làm về thế nào Ba tôi cũng chở về một vài món gọi là chuẩn bị Tết.
Trong khi đó Má tôi lo các mâm cúng kiến, bánh trái, mứt và quà cáp cho họ hàng. Đầu tiên là cúng đưa Ông Táo về trời chừng một tuần trước Tết. Tiễn Ông Bà Táo gồm bộ áo, giấy tiền vàng bạc, chè xôi và hoa quả. Lúc còn bé tôi nghĩ: chắc Ông Bà Vua Bếp cả năm ăn uống đủ thứ rồi nên tiệc chia tay không cần mâm cao cỗ đầy.
Má tôi tiễn ông Táo xong thì vội vã chuẩn bị các món bánh cho ngày Tết. Má làm được tất cả các loại bánh truyền thống đặc sản Quảng Nam, và làm rất khéo. Tôi vẫn còn nhớ cảm giác thích thú khi cùng Má soạn các loại mứt, hạt dưa… cho vào lọ thuỷ tinh để bày dọn. Mỗi thứ đều dành vài gói nhỏ để đem biếu nhà ông bà Nội Ngoại, cô bác gần xa…
Thuở bé tôi cứ nghĩ Ba Má là người làm ra Tết, chở Tết về nhà …

Bảo Huân
oOo
Những mùa xuân, những cái Tết được Má làm ra, Ba chở về… sau 1975 thì không còn nữa.
Ba tôi biền biệt trong lao tù “cải tạo” không rõ ngày về. Mỗi dịp cuối tháng Chạp là mỗi lần ngóng trông. Má tôi vừa lo cơm gạo cho đàn con vừa tất tả lo bới xách thăm nuôi. Hoàn cảnh gia đình lúc đó thật bi đát!
Ba đã trong tù, không còn cơ hội chở Tết về và Má tôi không có điều kiện làm ra Tết nữa. Anh em chúng tôi đón những mùa xuân mà… không có Tết.
Có một kỷ niệm vào ngày cuối năm, hôm đó Má tôi đi chợ vào chiều 30 Tết, với ít tiền có được nhờ đem bán một cái quạt trần ở phòng khách.
Chợ đông tấp nập, Má tôi dè dặt so đo rồi mua một bịch gạo và vài món rau dưa, cùng ít thịt heo. Má gọi chú xe đạp thồ (còn gọi là xe ôm) chở về. Bịch gạo được để phía trước, Má ngồi sau cùng giỏ đồ lặt vặt. Chú xe thồ hỏi thăm chuyện gia đình; Má tôi cũng thật lòng tâm sự về hoàn cảnh gia đình. Đến một đoạn kẹt xe vì có tàu hoả đi qua, Má tôi thấy chú vất vả nên nhảy xuống xe. Chú không hề hay biết, cứ len lỏi tiếp tục đi về phía trước…
Má tôi khi biết đã lạc thì cuống cuồng tìm kiếm. Đường phố đông nghẹt người, không ai tìm ra ai. Má tôi vội vàng gọi một chiếc xe đạp thồ khác hối hả về nhà. Vào tới đầu hẻm Má đã hớt hải: “Trời ơi, cuối năm mà khổ quá… mua được ít gạo chớ có nhiều nhặn chi… Tết ni con tui nhịn đói rồi.Không lẽ tui bị… cha xe thồ lừa…”
Má tôi vừa khóc vừa than… chừng 30 phút sau… chú xe đạp thồ mặt mũi lấm lem xuất hiện, chú vừa thở vừa nói: “Em đi tìm nhà chị hết hơi; may mà nghe chị kể chuyện, em mới biết chị ở trong kiệt ni. Chị nhảy xuống xe hồi mô em không hay?”
Má tôi lúc đó hơi ngượng nghịu: ”Tui tưởng chú… đi mất, chắc bầy con tui Tết ni… không có cháo húp”. Chú xe thồ nhỏ giọng: ”Nói chi tội rứa chị, mình cùng hoàn cảnh mà! Em không thấy chị mà nhớ câu chuyện chị kể… nhà cửa bị tịch thu phải dọn về ở xóm ni, … em hỏi bà đầu hẻm, vô đây là gặp được chị liền…”
Những người tò mò đứng hóng chuyện đều tấm tắc về lòng tốt của chú xe thồ.
Chú xe thồ chính là người đã chở Tết về nhà tôi.

Ba Má tôi đón Xuân (ảnh tác giả cung cấp)
oOo
Sau khi định cư tại Hoa Kỳ, sinh hoạt cộng đồng rộn ràng ba ngày Tết. Người Việt ai cũng còn mang trong lòng bản sắc dân tộc “Chúng ta ra đi, mang theo quê hương”
Là bánh mứt, pháo đỏ rượu hồng bày bán ở các khu chợ Á Đông; là họ hàng bạn bè gặp nhau mời tất niên, mời họp mặt đầu năm. Công nhân các hãng xưởng rủ nhau đón Tết trong chỗ làm; các món ăn truyền thống được giới thiệu với những người dân bản xứ và các cộng đồng khác.
Đó chính là những người đã đem Tết từ quê nhà sang đây, hoà cùng mây trời và nắng xuân nơi quê người, tạo nên những cái Tết Việt Nam bên ngoài quê hương.
Ba tôi vẫn thói quen đi dạo các chợ. Ai mua gì thì mua, ông cũng thơ thẩn ở khu bày bán hương đèn, nhang trầm, ly chén chưng bàn thờ. Ông cũng gắng tìm hoa vạn thọ. Nhiều năm sau Ba cũng trồng được một vạt hoa vạn thọ trong vườn. Ông vui lắm. Ngoài phụ trách vườn hoa, ông còn phụ Má tôi làm bánh mứt cho ngày Tết. Hai mái đầu bạc chụm bên nhau. Mùi lá chuối, mùi mứt gừng thơm lừng, thơm nức hương xuân.
Những ngày cuối năm Âm lịch thì trong nhà rộn vang những bản nhạc xuân, bàn thờ Phật đèn hoa lấp lánh. Hoa vạn thọ lên ngôi. Những phong bì lì xì được gắn lên cành hoa đào, hoa mai chưng ở phòng khách. Con cháu được thưởng thức các món ăn quê nhà.
Mùa đông nơi đây lạnh lắm, tiết Xuân về càng lạnh hơn. Nơi tôi ở hoa đào bắt đầu điểm hồng, điểm trắng trên cành. Đất trời đã vào xuân, đã mang mùa xuân về, vạn vật khởi sắc nhưng trong lòng con cháu, Ba Má mới là người đã làm ra Tết và đem Tết về nhà!
Không có Ba Má thì mùa Xuân nơi đâu cũng mãi mãi không có Tết!
NDAT








