Sài Gòn có bến Chương Dương

Có Dinh Độc Lập, có đường Tự Do,

Phường Chợ Quán, khóm Cầu Kho.

Bến xe Lục Tỉnh, con đò Thủ Thiêm…

(Bảo Vân)

Đoạn đầu của Bến Chương Dương của thập niên 1950 (Ảnh: Panoramio)

Ðó là 4 câu đầu của bài thơ Sài Gòn trong sách giáo khoa lớp Năm được viết vào cuối thập niên 1950, giới trung niên trở lên có ai không biết. Những lời thơ lục bát đọc lên dễ nhớ dễ đi vào lòng người nhắc đến những địa danh, công trình, đường sá mang tính đặc trưng của Sài Gòn ra đời sau khi thực dân Pháp trao trả độc lập cho chính quyền VNCH.

Thời Pháp thuộc, bến Chương Dương có tên gọi Quai d’ Arroyo Chinois và sau đó đổi thành Quai de Belgique. Bến Chương Dương bắt đầu từ đường De la Somme (Hàm Nghi) đến đường Nancy (hiện nay là Nguyễn Văn Cừ) dài chừng 3 cây số. Bến chỉ là một địa điểm nhưng cũng có thể là một con đường dọc theo mé sông bờ kênh khi giao thông đường bộ chưa hoàn toàn thay thế vị trí quan trọng của đường thuỷ trong khi ngành giao thông chưa được phát triển (đường Bến Chương Dương). Ghe tàu giao thương từ khắp mọi miền đổ về bến bãi mua bán, cung ứng hàng hoá cho người dân Thủ đô Sài Gòn.

Từ xưa, người Minh Hương trốn triều đình Mãn Thanh được Chúa Nguyễn cho đến định cư ở vùng đất phương Nam rộng lớn. Một số người giong thuyền buồm theo sông Soài Rạp vào sông Bình Giang (Sài Gòn ngày nay) dừng chân bên bờ sông An Thông mà họ đọc là Cổ Hũ do hình dáng con sông có đoạn phình ra rồi thắt hẹp như củ hũ dừa. Nhưng do phát âm hơi khó, dần dần người ta đọc thành Tàu Hủ. Họ chọn vùng đất này vì giao thông tiện lợi, sông rạch chằng chịt dễ di chuyển làm ăn buôn bán và họ gọi tên là Chợ Lớn. Về sau, vùng đất này đón nhận thêm một số người Hoa sống ở Cù Lao Phố (Biên Hoà) chạy nạn khi bị quân Tây Sơn đánh vào Nam tàn phá nhà cửa. Chợ Lớn càng thêm đông đúc nhộn nhịp chạy từ kênh Bến Nghé nối kênh Tàu Hủ dài chừng hơn 9 cây số trở nên sầm uất (bao gồm một phần nhỏ phía đông của quận 1, quận 2, 5, 6, 8 vào thời VNCH).

Khu vực Cầu Kho ngày xưa (Nguồn: Manhhaiflickr)

Như trên đã xác định khu vực bến Chương Dương. Tuy vậy về mặt địa giới nó chia làm thành hai bến trên một con kênh mang hai tên (Bến Nghé và Tàu Hủ). Do vậy, trong bài thơ học thuộc lòng trên có sự sắp xếp không theo trật tự (chắc là để thuận vần) khi nhắc đến phường Chợ Quán, khóm Cầu Kho trước rồi mới nói đến “Bến Thành đã tiếng tăm vang/ Chợ Cầu Ông Lãnh lại càng nên đi…”.

Xem thêm:   Quang gánh Việt Nam

Trở về trên trăm năm trước, khu vực chợ Cầu Muối và Cầu Ông Lãnh ngày nay, có một cây cầu gỗ dựng vào năm 1874 bắc qua kênh Bến Nghé được dân chúng dựng lên gọi là Cầu Ông Lãnh mà không lấy tên là Cầu Muối đã được gọi từ trước. Trong cuốn “Sài Gòn năm xưa” của học giả Vương Hồng Sển viết rằng, thời ấy người ta đào một con mương lớn từ kênh Bến Nghé dẫn vào (đường Nguyễn Thái Học ngày nay) để ghe muối từ miền Trung và miền Tây vận chuyển vào kho tích trữ bán sang Cam Bốt. Hai bên bờ mương người ta dựng nên các dãy nhà kho bằng tranh tre nứa lá, và bắc một cây cầu ván cho phu phen bốc vác muối mang lên bờ. Đến khi Pháp đánh chiếm Sài Gòn thì những kho muối trở thành hoang phế. Dân tứ xứ chạy giặc về đây cư trú rồi dần dần họp chợ, gọi là chợ Cầu Muối.

Từ đây, chợ Cầu Muối cùng chợ Cầu Ông Lãnh ra đời cùng một thời điểm mỗi chợ cách nhau vài trăm mét một bên là mặt ngó ra kênh Bến Nghé, một chợ dọc theo con mương có những cây cầu ván bắc vào khu chợ. Nhà văn Sơn Nam ghi nhận: “Cả hai chợ đều là “trên bến dưới thuyền” nhưng con kinh đào sau này lấp lại nên chợ Cầu Muối cách xa với bến sông. Năm 1875, chính quyền Pháp ở Sài Gòn chính thức cho phép thành lập chợ Cầu Muối và chợ Cầu Ông Lãnh.

Bến bãi lên xuống nước mắm của hãng Liên Thành trên Bến Chương Dương (Nguồn: Manhhaiflickr)

Tiếp theo chợ Cầu Ông Lãnh là phường Chợ Quán, khóm Cầu Kho. Bài thơ ghi nhận dưới chính quyền độc lập của VNCH những tên làng xã được đổi tên thành phường, khóm. Tuy vậy, nếu nói vùng Cầu Kho tức khu vực chợ Nancy sau này thành khóm thì có chút thiệt thòi cho cái tên đơn vị hành chánh quá nhỏ bé so với sự nhộp nhịp phồn thịnh của khu vực này khi xưa.

Xem thêm:   Facebook có gì ngộ (03/13/2025)

Khóm Cầu Kho là do nơi này có Kho Quản Thảo từ thời khẩn hoang lập ấp vào thời Chúa Nguyễn chưa hoàn thiện thiết lập bộ máy hành chánh ở đất Gia Ðịnh. Quan sở tại cho dựng kho Quản Thảo để thu trữ thuế khoá, chi cấp lương bổng (thuế biệt nạp đóng bằng lúa gạo). Trong bài phú Cổ Gia Ðịnh phong cảnh vịnh có ghi: “Kho Cẩm Thảo chứa thuế vua, mạch nước sữa dân ai dám phá”. Theo lịch sử và hiện trạng bản đồ do Trần Văn Học vẽ năm 1815, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, kho Quản Thảo nằm ở vị trí nhà thờ Cầu Kho ngày nay. Sở dĩ có tên Cầu Kho là do quan cai trị cho đào kênh dẫn từ kênh Tàu Hủ vào các kho chứa thuế để ghe thuyền tiện việc vận chuyển. Bên ngoài lại có con đường đất dọc theo kênh (sau này là đường Hàm Tử, hiện nay là đại lộ Ðông – Tây), người ta dựng một cây cầu gỗ bắc qua cho tiện giao thông đường bộ.

Khu vực Cầu Kho hình thành từ đó, người dân Ngũ Quảng tiếp tục di dân vào khai phá đất phương Nam dần dần định hình một khu dân cư đầu tiên trên vùng đất nhỏ dựa theo kênh rạch mà sau khi người Pháp chiếm được Gia Ðịnh lần hồi lập nên thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn. Vùng đất Cầu Kho là ranh giới giữa hai thành phố Sài Gòn (quận 1 ngày nay) và Chợ Lớn (quận 5), trở thành nơi thu hút dân chúng khắp nơi tụ về cư ngụ ngày càng đông cho đến khi Sài Gòn-Chợ Lớn sáp nhập làm Ðô thành Sài Gòn rộng lớn.

Nguyên văn bài thơ Sài Gòn trong sách giáo khoa trước 1975 (Ảnh: Internet)

Từ Cầu Kho nhích xuống một chút giáp bến Hàm Tử là Phường Chợ Quán. Khi xưa Chợ Quán thuộc làng Tân Kiểng. Gia Định thành Thông chí ghi rằng: “Chợ Tân Cảnh, cách trấn về phía nam hơn 6 dặm, phố chợ rất đông đúc, thường năm đến ngày Nguyên Đán có tổ chức chơi đu tiên vân xa (đu quay), đáng gọi là một chợ lớn. Cách sông ở bờ phía đông, ngày trước có người Cao Miên là Nặc Đích theo Nặc Tha đến, cắm dùi sống luôn ở đấy, người này bèn làm cầu ngang qua sông để thông đến chợ, gọi là cầu Nặc Đích, sau trải qua loạn lạc nên hư hỏng. Đầu phía tây đường lớn có đồn (gần góc đường Trần Hưng Đạo – Huỳnh Mẫn Đạt ngày nay) bắt trộm cướp đóng giữ. Thời đó tuy làng đã đông dân nhưng hổ dữ thỉnh thoảng xuất hiện làm xáo trộn cuộc sống dân làng.

Xem thêm:   Nhà Có Hoa Anh Đào

Một điều nên biết là, trước khi người Minh Hương đến cư ngụ thì những người Ngũ Quảng đã di dân vào vùng đất này lập nên làng xã. Chợ Tân Kiểng ngày Tết đông vui, náo nhiệt, sách xưa ghi rằng “đáng gọi là một chợ lớn”. Chợ Tân Kiểng còn có một tên tục gọi là Chợ Quán.

Điểm qua vài địa danh chính trong bài ca dao trên để hoài niệm Sài Gòn một thuở thanh cảnh hữu tình.

Từ thập niên 1960, cư dân khắp nơi dồn về Sài Gòn lánh nạn chiến tranh. Một số dân nghèo chiếm lấn bờ bãi các con kênh trở thành một vấn nạn môi sinh đô thị. Dọc mé sông mé kênh, chính quyền phải cho làm những nhà vệ sinh bằng gỗ. Đây là những cầu tiêu công cộng đầu tiên của Sài Gòn. Vài điểm trên Bến Chương Dương, Hàm Tử mọc lên một số cầu tiêu để giải quyết cái nhu cầu “cấp thiết” của dân thương hồ kẻ chợ. Có người cho rằng, cảm giác thoải mái khi sử dụng các cầu tiêu mé sông đã sinh ra một câu tiếng lóng: “Sướng rên mé đìu hiu “ mà nhà văn Duyên Anh hay sử dụng trong nhiều tác phẩm của mình như: Thằng Côn hay Bồn Lừa!

TN