Sau trận Santa Cruz, The Pacific Fleet’s Carrier Task Forces của Nimitz không còn một hàng không mẫu hạm nào khả dụng. Chiếc Lexington chìm ở biển San Hô, chiếc Yorktown chìm ở Midway, chiếc Wasp chìm ở Solomon, chiếc Hornet vừa chìm ở Santa Cruz, hai chiếc Saratoga và Enterprise hư hại nặng còn đang sửa. Riêng chiếc Ranger tăng phái cho British Home Fleet chưa hoàn trả. Tình cảnh không sáng sủa và cấp bách vì Nhật sắp tấn công. Cấp trên của Nimitz là Đô đốc Ernest King quyết định cải tổ Hải lực Nam Thái Bình Dương (South Pacific Area):

  1. Cách chức Phó Đô đốc Robert Lee Ghormley vì quá bi quan và không bao rời đại bản doanh ở New Caledonia; không thể chỉ huy hải chiến từ trên đất liền!
  2. Cách chức Phó Đô đốc Frank Jack Fletcher đang chỉ huy các mẫu hạm vì thiếu nanh vuốt! Đánh nhau với Nhật phải hiếu chiến hơn quân Nhật, là nhãn quan của King. Cách chức Đề đốc George D. Murray đang chỉ huy Task Force 17 vì đã để chìm USS Wasp.
  3. Trang bị radar cho tất cả thuyền chiến và đưa vào sử dụng radar dò tìm mục tiêu cho hải pháo.
  4. Đổ thêm Sư đoàn 25 Bộ binh Tia Sét Nhiệt Đới “Tropic Lightning” lên đảo Guadalcanal.

Nimitz đề bạt Đô đốc William Halsey thay thế Ghormley và Đề đốc Daniel J. Callaghan tạm thời chỉ huy Task Force. Nếu việc bổ nhiệm Halsey, biệt danh “Bò đực” (Bull) là một quyết định đúng, thì Callaghan là một chọn sai.

Callaghan giữ chức Đề đốc Hậu cứ (Rear Admiral) cho Ghormley cho đến khi Ghormley bị cách chức. Chưa từng chỉ huy hải đoàn kể từ khi Nhật đánh Trân Châu Cảng, Callaghan thiếu kinh nghiệm chiến trường. Quan trọng hơn nữa là Callaghan không theo kịp tiến bộ kỹ thuật nên không tin vào tính chính xác của radar. Trong trận đánh sắp mở màn Callaghan cũng không cho dùng radar điều chỉnh mục tiêu cho trọng pháo. Nhận Medal of Honor vì tử trận, Callaghan thoát cơn thịnh nộ của King.

[Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương XXVI

Dư âm trận Santa Cruz không kéo dài lâu. Mạng lịnh chờ đợi Ðô đốc Nagumo ở Truk. Ngày 2 tháng 11, ông rời khỏi chức vụ Tư lệnh Ðệ Tam Hạm đội, tức Lực lượng Ðặc nhiệm, và về Nhựt đảm trách chức vụ mới, chỉ huy căn cứ hải quân Sasebo. Nghe tin thuyên chuyển này, tôi đã đến gặp ông nhưng không biết nên ngỏ lời chia vui hay chia buồn. Trong Hải quân, tòng sự trên đất liền ít xem là vinh quang. Trước mặt tôi, Nagumo là một ông già tiều tụy. Sáu tháng qua làm ông già thêm 20 tuổi. Thấy tôi, ông thoáng cười: “Hân hạnh gặp lại anh, Hara. Những việc anh làm khiến tôi kiêu hãnh.”

Tôi đỏ mặt vì lời khen này rồi sau vài giây yên lặng đầy bối rối, tôi lên tiếng: “Thưa Ðô đốc, tôi thấy Ðô đốc dường như không khỏe?”

“Ồ! Bệnh cúm sơ sài thôi mà.” Ông mau mắn đáp. “Trở về quê nhà ít hôm sẽ khỏi ngay, và tôi sẽ sớm trở lại đây chiến đấu với anh.”

“Dạ đúng, thưa Ðô đốc, khí hậu ở Sasebo sẽ khiến Ðô đốc mau bình phục. Ðô đốc xứng đáng được nghỉ ngơi một thời gian vì Ðô đốc đã liên tục một năm ngoài mặt trận rồi. So với trách nhiệm của Ðô đốc, nhiệm vụ của tôi không khác nào ngao du nhàn nhã.”

“Từ đây anh không còn nhàn nhã nữa đâu! Ngoại trừ chiếc Junyo, tất cả hàng không mẫu hạm sẽ về Nhựt để tu bổ. Trong các trận đánh vừa qua, chúng ta đã thiệt mất một số phi công giỏi, các phi công mới phải còn lâu mới thích ứng với sứ mạng.”

“Xin lỗi Ðô đốc, như vậy là các hàng không mẫu hạm Shokaku, Zuikaku, Zuiho và Hiyo, tất cả sẽ vượt 2,500 dặm để trở về quê hương và chỉ còn lại một mình chiếc Junyo che trên không cho chúng tôi hay sao?”

“Phải, Hara! Các chiến hạm của chúng ta chỉ hư hại nhỏ trong trận Santa Cruz, nhưng chúng ta đã mất nhiều phi công kinh nghiệm và những chỉ huy tài giỏi về ngành bay. Ðối với chúng ta, trận đánh vừa qua là chiến thắng trên phương diện chiến thuật nhưng trên phương diện chiến lược là một thất bại to tát. Như anh đã biết, tôi đặc biệt nghiên cứu tiềm năng của Hoa Kỳ, đoán biết khả năng kỹ nghệ của địch vượt bực; vì vậy trong mọi trận đánh chúng ta phải hạ gục họ ngay mà không để cho bị thiệt hại. Nhưng không may, trong trận vừa rồi, chúng ta không làm được.”

Người thay thế Nagumo là Phó Ðô đốc Jisaburo Ozawa, là sỹ quan cao lớn nhứt của Nhựt, vì Ozawa cao 6’7” gần 2 mét; cao hơn nhiều so với một người Nhựt trung bình. Ozawa còn được xem là xấu trai nhất Hải quân. Ông được biết đến nhờ danh tiếng đã có nhiều ý tưởng sáng tạo trong chiến thuật sử dụng tàu sân bay, tuy tài năng thực thụ của ông thì không ai biết ra sao.

Xem thêm:   Đảo của dân Ngụ Cư

Tin tức của việc thuyên chuyển này gây xôn xao. Chúng tôi biết sức khỏe của Nagumo yếu kém, không còn thích hợp cho vị trí chỉ huy tác chiến. Mọi người hy vọng vị tân tư lệnh sẽ tạo ra “phép lạ” và dẫn chúng tôi đến chiến thắng.

Kế đó, tôi đến viếng thăm Kakuta để chúc mừng ông vừa tân thăng. Vị tân Phó Ðô đốc này luôn luôn hăng hái, nhưng xem ra ông có vẻ nao núng khi chúng tôi thảo luận về việc Ðệ Nhị Hạm đội của ông chỉ còn lại một hàng không mẫu hạm duy nhất hoạt động ở Tây Nam Thái Bình Dương.

Tôi cũng tạt qua Tổng Hành dinh của Ðô đốc Yamamoto và nhận thấy không khí ở đấy có vẻ căng thẳng. Từ khi Sư đoàn 2 Sendai thảm bại trên đảo Guadalcanal, Lục quân yêu cầu Ðô đốc Yamamoto cung cấp phương tiện vận chuyển thêm một sư đoàn khác. Ông chỉ biết làm theo các yêu cầu này mà không quyền bàn thảo.

Yamamoto biết tất cả các hải đoàn của ông đều quá mỏi mệt sau trận Santa Cruz nhưng ông bắt buộc phải đưa các hợp đoàn này ra đại dương một lần nữa, và lần này, hầu như không được bao che trên không. Yamamoto đã có lý khi cho rằng trong trận Santa Cruz địch mất mát bao nhiêu thì ông cũng kiệt quệ bấy nhiêu. Khoảng đầu tháng 11 hình như nhận xét này có vẻ không mấy đúng khi 20 khu trục hạm Nhựt thành công trong việc đổ bộ toàn thể Sư đoàn 38 Bộ binh vào những ngày 2, 7, 8 và 10 mà không gặp bất kỳ ngăn trở nào của địch. Sư đoàn 38 danh hiệu Numa Heidan,  (the Swamp Division), là sư đoàn chuyên đánh rừng rậm sình lầy, chính sư đoàn này đã chiếm Hương Cảng và Nam Dương vào đầu cuộc chiến. Trong 4 tháng liên tiếp, các trận đánh ác liệt sẽ diễn ra dọc sông Matanikau giữa Sư đoàn 38 của Chuẩn tướng Takeo Itô với Trung đoàn 1 Biệt Kích Thủy TQLC (1st Marine Raider Regiment) và Trung đoàn 164 Bộ binh Mỹ. Ðể vinh danh, một hàng không mẫu hạm nhẹ của US Navy về sau mang tên USS Matanikau.

Nhưng đó là chuyện sắp tới, còn vào lúc này mặt trận lên xuống như con sóng. US Navy, giống như trước đây, chờ đúng lúc để ra tay và một loạt chạm trán đẫm máu đã xảy ra trong hải phận Guadalcanal vào những ngày 12 đến 15 tháng 11-1942.

Tôi tham dự ngay trận đầu tiên của loạt hải chiến này, và nhận thấy tiên đoán của Nagumo hoàn toàn đúng. Ðây là trận đánh dữ dội hơn bất kỳ trận nào tôi đã biết qua. Chiếc Amatsukaze của tôi đã phóng ngư lôi đánh chìm tuần dương hạm Juneau và khu trục hạm Barton, đồng thời gây hư hại nặng nề cho soái hạm San Francisco của Ðề đốc Daniel Judson Callaghan, làm ông tử thương trong trận đánh. Hai quả đại pháo của tuần dương hạm Helena đã đốn ngã 43 thủy thủ của tôi, trong lúc tôi đang đâu lưng với họ mà tôi không sây sát gì. Tôi sống sót chỉ nhờ vào một may mắn thiêng liêng.

Ðây là một trong những hải chiến kỳ dị nhất của lịch sử hiện đại, hầu như là một cuộc loạn đả giữa 14 chiến hạm Nhựt và 13 chiến hạm Hoa Kỳ. Không hàng lối, mạnh ai nấy bắn. Qua thư hùng, Nhựt mất một thiết giáp hạm và hai khu trục hạm, phía Hoa Kỳ chỉ còn đúng 3 khu trục hạm và một tuần dương hạm không mấy nguyên vẹn. Khá nhiều sỹ quan cao cấp Mỹ thiệt mạng. Có thể nói đây là một trong những cuộc bại trận tồi tệ nhứt của US Navy. Tuy nhiên, Nhựt cũng không hài lòng trọn vẹn với những chiến tích đạt được. Vị tư lệnh Nhựt, Ðề đốc Hiroaki Abê chỉ huy trận đánh này, bị đưa ra tòa án binh và bị cách chức.

Giống như một cuộn chỉ rối, người ta không thể nào biết hết các chi tiết thực sự. Nên tôi cố gắng ghi lại một cách vô tư, xác thực và đầy đủ bao nhiêu hay bấy nhiêu. Ðề đốc Hiroaki Abê, một chuyên viên khu trục hạm, và là một tay kinh nghiệm tác chiến, đã chỉ huy 14 chiến hạm Nhựt tham dự vào thủy chiến này. Ông nổi tiếng là người cẩn trọng, vì vậy mà ông thường bị chỉ trích là rụt rè, nhút nhát. Trong trận Santa Cruz vừa rồi, Abê chỉ huy hải đoàn tiên phong đã kháng cự hữu hiệu các cuộc không kích của Hoa Kỳ, kể cả pháo đài bay B17 cất cánh từ đảo Espiritu Santo cách Santa Cruz 340 cây số. Nhưng khi địch rút lui, ông đã không truy đuổi đến cùng.

Abê không đã mấy kích động khi nhận lệnh của Yamamoto cầm đầu hạm đội mở các cuộc pháo kích dọn đường lên Guadalcanal, như Phó Ðô đốc Kurita đã làm một tháng trước đó. Abê không tin là Mỹ ngu dại đến nỗi cho Nhựt áp dụng lại cùng một phương thức.

Xem thêm:   Đảng Dân Chủ Mỹ thay lãnh đạo mới

Sức khỏe Abê sa sút, nhất là sau trận đánh đảo Savo vào ngày 11 tháng 10, đưa đến cái chết của cố tri của ông, là Ðề đốc Aritomo Goto. Task Force 64 của Ðề đốc Norman Scott trang bị radar đã nhìn thấy Goto và đánh tập hậu. Trước khi trút hơi thở cuối cùng trên boong tuần dương hạm Furutaka, Goto trối trăng cho biết ông bị hỏa lực bạn bắn nhầm, và cho rằng hành động can đảm của ông là ngu si. Goto thều thào: “Bakayaro! Bakayaro! “.!”, Lũ ngu! Lũ ngu!..” khi ra đi.

Ðó là một cái chết thảm thiết. Abê buồn bã khi

nghe chuyện, và ông quyết định không giẫm lên vết chân của Goto. Abê có lý khi cho rằng cuộc đổ bộ êm thắm của Sư đoàn 38 Bộ binh chỉ là một sự êm thắm giả tạo. Tình hình này giống như trước khi xảy ra trận Santa Cruz. Giông tố ập phía sau đám mây, nên tâm trạng Abê là đón chờ những gì tồi tệ nhứt.

Vào ngày 9 tháng 11-1942, chiếc Amatsukaze của tôi nằm trong một nhóm 8 khu trục hạm cùng với tuần dương hạm nhẹ Nagara rời khỏi Truk, và sáng sớm ngày 12 chúng tôi kết hợp với 2 thiết giáp hạm và thêm 3 khu trục hạm của Ðề đốc Abê gần đảo Shortland.

Lúc 8:30 cùng ngày, khi còn cách phía Bắc mục tiêu 300 dặm, chúng tôi bị một pháo đài bay B17 phát hiện. Hàng không mẫu hạm Junyo của Phó Ðô đốc Kakuta liền tung phi cơ bắn hạ, nhưng chiếc B17 đã lẩn mất dạng mà không hề thả một trái bom. Chắc chắn chiếc B17 đã thu thập đầy đủ những gì cần biết về hoạt động của chúng tôi. Cuộc tiếp xúc quá sớm này càng khiến cho tính thận trọng cố hữu của Abê gia tăng, và nhất là ông vừa nhận những báo cáo về nỗ lực tăng viện của địch trong hai ngày 11, 12 tháng 11.

Lúc 1:30 trưa, bỗng nhiên Abê ra lệnh thay đổi hẳn đội hình. Ban đầu chúng tôi hải hành hàng dọc, giờ chuyển sang đội hình xen kẽ: Năm khu trục hạm trải rộng ra thành hình vòng cung, chạy cách phía trước tuần dương hạm Nagara 8,000m. Kể từ chiếc Nagara, 6 khu trục hạm khác rải thành hai hình cánh quạt, mỗi chiếc cách nhau 2,000m. Hai thiết giáp hạm Hiei và Kirishima chạy sau chiếc Nagara, mỗi chiếc cách nhau 2,000m. Ðội hình vững chãi này hoàn tất vào lúc 14g, khi chúng tôi chỉ còn cách Guadalcanal 200 dặm. Tôi nghĩ, mục đích của đội hình là nhằm ngăn ngừa tiềm thủy đĩnh hoặc phi cơ địch tấn công bất ngờ. Tôi không bao giờ tưởng tượng Abê, vì sự quá cẩn trọng này mà phải lâm vào cảnh bối rối trong suốt cuộc hành quân. Còn bối rối hơn bị địch tấn công bất thần.

Chúng tôi vẫn tiến về phía Nam với tốc độ 20 hải lý, soái hạm Hiei cho một trinh sát cơ cất cánh. Một giờ trôi qua, phi cơ của chúng tôi không gửi báo cáo về mà cũng không có một chiếc phi cơ địch nào xuất hiện. Thời tiết thình lình u ám. Những đám mây dày tụ đến nhanh chóng và một cơn mưa dữ dằn trút xuống, che mờ vạn vật cho đến nỗi không nhìn thấy cả những chiếc tàu chạy gần nhất. Trên chiếc Amatsukaze, tôi bồn chồn mong đợi lệnh cho các chiến hạm chạy chậm lại, và thay một đội hình ít phức tạp hơn. Nhưng không có lệnh nào ban ra.

Ðối với Abê, cơn mưa bão hiện tại là một thiên ân. Ông biết rằng ẩn trong cơn bão này, phân hạm đội của ông không còn sợ các cuộc tấn công của địch từ ba phía trên không, trên mặt và dưới biển. Khi các sỹ quan xin cho các chiến hạm giảm tốc độ, ông đã gạt đi: “Phải duy trì vận tốc để đến mục tiêu đúng lúc!”

Mưa bão trên các vùng biển nhiệt đới thường giới hạn trong một khu vực nhỏ và hiếm khi kéo dài hơn vài giờ. Nhưng cơn mưa bão này đã làm chúng tôi kinh ngạc, vì kéo dài triền miên. Chúng tôi tiếp tục với vận tốc 18 hải lý. Hai giờ trôi qua, mưa vẫn đổ xuống như thác.

Mặc dù nước mưa thấm ướt, thân thể và mặt mày chúng tôi vẫn rướm mồ hôi. Vì ngột ngạt. Trong thời bình, không có vị tư lệnh nào dám cho các chiến hạm chạy xuyên qua mưa bão mù mịt, với tốc độ cao và trong một đội hình phức tạp, bởi lẽ thời gian này chưa có dụng cụ nào giúp di chuyển an toàn trong tình trạng như vậy. Nhưng chúng tôi đã hải hành suốt 7 tiếng đồng hồ trong tình trạng đui mù này mà không xảy ra tai nạn nào. Ðiều đó chứng tỏ tài đi biển của thủy thủ Nhựt, cũng như vào sự lão luyện cao độ đã tránh được tình trạng bắn lầm giữa các chiến hạm chúng tôi, trong trận đánh hỗn loạn sắp tới. Một số tin của Hoa Kỳ liên quan đến trận đánh đã cho rằng chiến hạm Nhựt khai hỏa vào nhau, điều này hoàn toàn sai.

Xem thêm:   Những điều vô hình (kỳ 2)

Trên đài chỉ huy của thiết giáp hạm Hiei, Abê có vẻ khoan khoái. Ông nói với các sỹ quan ướt như chuột lột đang đứng xung quanh: “Cơn bão này di chuyển cùng tốc độ và cùng hướng với chúng ta. Là trời giúp!”

Báo cáo đầu tiên của thám thính cơ: “Phát hiện hơn chục chiến hạm địch gần đảo Lunga.”

Abê cười: “Nếu thiên địa song song với chúng ta như lúc này, sẽ khỏi bận rộn với chúng.”

Hạm đội tiếp tục tiến. Nhiều giờ nữa trôi qua, nhưng mưa bão không dừng mà có phần dữ hơn. Trong suốt binh nghiệp tôi chưa từng thấy cơn mưa nào mạnh như vậy. Nó dần chúng tôi mệt nhừ. Các sỹ quan của tôi đều bực bội. Thiếu úy Shoji kêu: “Hết chịu nổi! Mưa giết người.. Không chết thì điên.. Ðánh Mỹ còn sướng hơn…”

Lúc 22g, chúng tôi đến gần mục tiêu, với điều kiện là đã hải hành chính xác. Trên soái hạm Hiei, Ðề đốc Abê đang cắm cúi trên hải đồ. Từng là một chuyên viên khu trục hạm, ông biết rõ khả năng của từng hạm trưởng một, và ông cũng biết rõ Ðề đốc Kimura ở trên chiếc Nagara là một trong những chuyên viên hàng hải ưu tú nhứt. Ðồn quan sát Lục quân ở Guadalcanal gửi công điện: “Hiện giờ thời tiết rất xấu.” Thám thính cơ của Hiei, sau báo cáo ở Lunga, đã bay thẳng về Bougainville vì không thể đáp xuống tàu mẹ đang chạy trong mưa bão. Ðề đốc Abê biết rằng một cuộc pháo kích của các tàu chiến không thể chính xác trong tình huống này, ông quyết định thoát khỏi cơn bão ở mạn phía Nam. Hiei truyền lịnh qua siêu tần số: “Tất cả các chiến hạm sẵn sàng để đổi hướng 180 độ cùng một lúc.” Như vậy có nghĩa là chúng tôi quay lưng lại mục tiêu.

Tôi đáp lập tức: “Amatsukaze gửi Hiei, sẵn sàng đổi hướng 180 độ.” Thông thường lịnh thi hành theo sau 30 giây, như vậy mới chuẩn bị kịp để tránh va chạm. Tôi bồn chồn nhìn đồng hồ. Một phút trôi qua. Lịnh đổi hướng vẫn chưa đến. Một phút ba mươi giây, vẫn im lặng. Tôi chạy vào phòng truyền tin hỏi: “Có lịnh chưa?”

“Chưa, thưa Trung tá. Hai khu trục hạm đi đầu Yudachi (Cuồng Phong Ðêm) và Harusame (Mưa Xuân) cũng chưa nhận lịnh.”

Ba phút trôi qua, phòng truyền tin báo: “Thưa Trung tá, Hiei đang dùng tần số trung bình để liên lạc với Yudachi và Harusame.”

Tôi kêu lên: “Sao lại có chuyện đó? Hiei điên rồi à?”

Bởi vì sử dụng tần số trung bình là bị địch chặn bắt dễ dàng. Như vậy lợi thế của chúng tôi nhờ cơn mưa bão đã bị Hiei phá tan rồi.

22g, hiệu thính viên báo cáo: “Lịnh đổi hướng 180 độ cho tất cả chiến hạm!”

Tôi ra lịnh: “Xoay 180 độ!” Khu trục hạm của tôi thi hành một cách gọn gàng. Tôi nhìn quanh một vòng, chỉ sợ các tàu đụng nhau. Không gì xảy ra. Sự đổi hướng kỳ dị trong một đội hình phức tạp như vầy mà êm thấm mới là chuyện lạ.

Lịnh kế của soái hạm Hiei: “Tốc độ giảm xuống 12 hải lý.” Abê không bao giờ làm việc cầu may. Qua nhiều năm kinh nghiệm, ông biết đội hình trước đó, chạy như đui mù, sẽ không còn giữ đúng nữa. Abê cho xoay 180 độ là hữu lý. Vì đội hình hiện giờ chắc chắn đã phân tán. Tôi đã nhìn thấy, ngay cả trước khi có lịnh giảm tốc độ, đội hình vòng cung của 5 khu trục hạm chạy phía trước tuần dương hạm Nagara 8,000m, đã phải xoay hẳn một vòng tròn 360 độ thay vì 180 độ, để quay lưng về phía Guadalcanal. Vì vậy, 5 chiếc tàu này bị vỡ làm hai nhóm, một nhóm 2 chiếc và một nhóm 3 chiếc. Và do đó, đội hình của toàn thể hạm đội dãn ra thêm nữa. Yếu tố bất ngờ này lại có một giá trị quan yếu đối với trận đánh sắp xảy ra. Chính định mệnh đã bài trí.

Kỳ sau: Chương XXVII

Lập chiến tích

Tameichi Hara, Đông Kinh 1958

Bản Anh ngữ Japanese Destroyer Captain, Fred Saito & Roger Pineau, 1960

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm, Sàigòn 1974

Trần Vũ hiệu đính từ bản dịch Les Torpilleurs du Soleil Levant, René Jouan, 1962

Minh họa từ trang World of Warships