Tuyên truyền của phía chiến thắng tràn ngập youtube với vô vàn các video ngụy tạo nhằm bôi nhọ Quân đội Quốc gia. Phát thanh cũng qua Youtube, trang Ký Sử 1975 cho cách nhìn trung tính hơn về nội chiến. Người xưa không lấy thành bại để luận anh hùng nhưng trọng lòng quả cảm lúc sống và lúc chết. Tiêu chuẩn đó vẫn đúng cho các quả phụ của những sĩ quan đã tuẫn tiết, vì bằng nghị lực phi thường, họ đã giữ tiết tháo của chồng mình không hoen ố. Câu chuyện đời bà quả phụ Phan Thị Minh Yến, tự thân là một tấm gương.
Chép lại từ bản thu âm phát thanh trên youtube dưới tựa “Chồng Tuẫn Tiết ở Lai Khê, Vợ Ôm 4 Con Sang Mỹ và Từ Chối Mọi Vinh Danh”, tôi chọn thay tựa, vì quá dài, bằng tựa “Chiếc rương gỗ mang từ Hải Phòng”. Vì gia đình cô Phan Thị Minh Yến khi di cư từ Hải Phòng mang theo chiếc rương gỗ chứa những gì quý giá nhất và gìn giữ cho đến cuối tháng 4-75. Nếu Phan Thị Minh Yến buộc phải rời Sàigòn không thể mang theo vì quá nặng, chiếc rương đó hiện diện trong suốt đời bà. Nếu bà đành bỏ lại hòm gỗ, bà đã mang theo được những gì trân quý cất giữ bên trong.
Trang Ký Sử 1975 ẩn danh, không nêu tên người viết thoại và đọc, nhưng là một văn bản thu thanh hoàn chỉnh.
[Trần Vũ]
4 kỳ – kỳ 1
Người thợ cắt tóc
Suốt 30 năm, một người thợ cắt tóc ở Virginia không hề nói mình là ai. Khách quen chỉ gọi bà là cô Yến. Họ biết bà cắt tóc khéo, gội đầu nhẹ tay và rất ít nói. Họ không biết chồng bà từng là một vị tướng. Họ càng không biết ông đã chết như thế nào. Tên ông là Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông là một trong 5 vị tướng miền Nam đã tự sát trong ngày 30 tháng 04 năm 1975. Người phụ nữ đứng sau chiếc ghế cắt tóc kia năm ấy chưa tròn 30 tuổi. Bà rời Sài Gòn cùng 4 đứa con nhỏ. Đứa lớn nhất 10 tuổi, đứa út mới lên 6. Bà đi mà không biết đó là lần cuối cùng còn nhìn thấy chồng. Bà cũng không biết rằng chỉ ít ngày sau ông sẽ chọn ở lại và chết theo đơn vị của mình. 30 năm sau, bà vẫn đứng nguyên ở chỗ ấy trong một tiệm tóc nhỏ làm công cho người khác. không huân chương, không bục vinh danh, không một dòng tiểu sử nào nhắc đến tên bà. Vậy nên câu hỏi ở đây rất giản dị mà khó trả lời. Một người phụ nữ có đủ tư cách để cả một cộng đồng phải cúi đầu. Vì sao lại im lặng lâu đến thế? Và điều gì đã giữ bà đứng vững suốt ngần ấy năm chỉ với một cây kéo trong tay, một tiệm tóc nhỏ ở Virginia.
Cây kéo trong tay bà gần như chưa từng được nghỉ. Buổi sáng của bà bắt đầu trước khi trời sáng hẳn. Bà đến tiệm sớm bật đèn, lau gương, xếp lại những chiếc lược trên khay. Mùi thuốc uốn tóc lẫn mùi dầu gội bám vào áo bà từ nhiều năm trước và không bao giờ chịu bay đi.

Khách đầu tiên thường là những người Mỹ lớn tuổi trong vùng quen mặt đến mức không cần đặt hẹn. Họ ngồi xuống kể chuyện con cái, chuyện thời tiết, chuyện xe hỏng máy. Bà nghe gật đầu, thỉnh thoảng đáp lại bằng thứ tiếng Anh chậm rãi và cẩn thận. Tiếng kéo lách cách đều đặn trên tóc như một nhịp gõ nhỏ giữ cho cả buổi sáng trôi đi. Bà đứng suốt 8 tiếng mỗi ngày, đôi khi lâu hơn. Hai bàn chân sưng lên vào cuối tuần và bà giấu chuyện đó rất giỏi. Người chủ tiệm quý bà vì bà không bao giờ nghỉ đột xuất, không than phiền, không tranh khách với ai. Nhiều lần có người khuyên bà nên mở tiệm riêng vì tay nghề bà đã đủ vững. Bà chỉ cười và lắc đầu. Bà có lý do của mình. Một lý do mà bà không giải thích với ai trong tiệm.Mở tiệm nghĩa là phải lo thuê mặt bằng, lo giấy tờ, lo thợ, lo khách. Mở tiệm nghĩa là tối về nhà đầu vẫn còn đầy con số. Mà ở nhà thì có 4 đứa trẻ đang lớn từng ngày. Ở một đất nước mà chúng chưa hiểu hết bằng một thứ tiếng mà bà chưa nói sõi. Bà chọn làm thợ làm công ăn lương đúng giờ về. Với người ngoài, đó là một người đàn bà thiếu tham vọng. Với bà, đó là một quyết định đã cân nhắc rất kỹ.
Trong chiếc ví bà mang theo mỗi ngày có một tấm ảnh đen trắng, ảnh góc đã sờn được bọc lại bằng một lớp nhựa mỏng. Không ai trong tiệm từng nhìn thấy nó. Bà không lấy ra khoe, không đặt lên bàn trang điểm như những người thợ khác vẫn làm với ảnh gia đình. Tấm ảnh nằm im trong ngăn khuất nhất sau mấy giấy tờ tùy thân. Trong ảnh là một người đàn ông mặc quân phục, gương mặt gầy, ánh mắt thẳng. Có lần một bà khách quen hỏi bà từ đâu đến. Bà đáp rằng bà đến từ Việt Nam. Bà khách hỏi tiếp, “Thế còn chồng bà?” Bà im lặng một lúc rồi nói rằng, “Ông không sang được”. Câu chuyện dừng ở đó, người khách chuyển sang bàn chuyện màu tóc và bà tiếp tục công việc của mình như chưa có gì xảy ra. Cả tiệm không ai biết rằng câu trả lời ngắn ngủi kia che giấu một điều lớn đến nhường nào. Người ta thường hình dung vợ của một vị tướng bại trận sẽ sống trong hoài niệm kể mãi về những ngày cũ. Bà thì ngược lại bà gần như không kể gì, không phải vì bà quên mà vì bà hiểu rất rõ một điều thực tế. Ở nơi đất khách này, không ai biết hoàn cảnh của bà và điều đó lại tiện cho bà.
Không ai thương hại, không ai tò mò. Bà cứ việc mình làm, căn hộ nhỏ sau giờ đóng cửa. Buổi tối mới là ca làm việc thứ hai trong ngày của bà mà về nhà với mùi thuốc uốn còn vương trên áo, nấu cơm, rửa bát rồi ngồi xuống bên bàn học của các con.
Ba đứa con trai tên Quang, Minh, Chính. Đứa con gái út cả nhà gọi là em Đại, còn ra ngoài lớp học thì mang cái tên mềm hơn nhiều. Tường Vi. Bốn cái tên ấy không phải do bà đặt. Chúng được đặt theo tâm niệm của người cha. Một người lính đã sống trọn đời mình với những chữ đó. Mỗi buổi tối, bà lại nhìn 4 cái tên ấy trên bìa vở của các con. Có những chuyện mà một người mẹ có thể xoay sở được. Chuyện ăn, chuyện mặc, chuyện ốm đau, chuyện tiền học.Nhưng có những chuyện thuộc về phần việc của người cha và bà phải làm luôn cả phần ấy.
Ba cậu con trai đang bước vào tuổi thiếu niên ở một xứ sở xa lạ. Chuyện bạn bè, chuyện đánh nhau ở trường, chuyện chọn nghề, rồi sau này là chuyện yêu đương và hôn nhân. Mọi quyết định bà đều phải tự đưa ra một mình, không có ai để bàn bạc trong đêm. Bà làm mẹ từ hồi còn ở Việt Nam nên phần ấy đã quen tay, phần khó là làm cha.
Có những buổi tối, bà ngồi rất lâu trước một tờ giấy của nhà trường mà chưa biết ký thế nào. Có những lần một đứa con trai về nhà với vết bầm trên mặt và không chịu nói vì sao. Bà không có ai để hỏi cho ra lẽ, cũng không có ai để trút giận. Bà đành làm cái việc mà bà đã tập rất nhiều năm là ngồi xuống hỏi từ từ rồi tự quyết định. Sáng hôm sau bà lại dậy sớm, lại đến tiệm, lại bật đèn và lau gương. Cuộc đời bà chia làm hai ca như thế, ngày này qua ngày khác, suốt hơn 30 năm, người ta hay nghĩ rằng một người đàn bà mất chồng trong chiến tranh sẽ sống bằng nỗi đau. Trường hợp này thì khác, bà sống bằng thời khóa biểu, 7 giờ mở tiệm, 6 giờ ra về, cuối tuần đi chợ. Chính cái nhịp lập đi lập lại ấy đã giữ bà lại năm này qua năm khác khi mọi thứ khác đã mất hết.
Muốn hiểu vì sao người phụ nữ ấy đủ sức gánh cả hai vai trong ngần ấy năm phải quay ngược về rất xa. Không phải về tháng Tư năm 1975, cũng không phải về những ngày đầu ở nước Mỹ mà phải trở lại một mùa hè cách đó hơn 20 năm ở một con phố mang tên Cầu Đất, thành phố Hải Phòng. Ở đó có một cô bé sắp phải rời khỏi nhà mình và cô bé ấy còn quá nhỏ để hiểu vì sao. Từ Cầu Đất đến tiệm tóc ở Virginia là một quãng đường dài hơn nửa vòng trái đất. Trên quãng đường ấy, bà lần lượt là con gái của một gia đình di cư rồi là nữ sinh trường đầm ở Sài Gòn. Sau đó, bà thành vợ lính thành phu nhân của một vị tướng rồi thành góa phụ. Mỗi vai trò đến rồi đi theo một biến động của thời cuộc, không vai nào do bà chọn. Chỉ có vai cuối cùng là bà tự chọn và giữ đến tận cùng. Vai ấy không có tên gọi trang trọng nào cả. Nó chỉ đơn giản là làm mẹ.
Trong tiệm tóc có một điều nhỏ mà những người làm chung để ý thấy nhưng chưa bao giờ hỏi. Cả năm bà không nghỉ ngày nào kể cả khi cảm sốt chỉ có đúng một ngày vào những ngày cuối cùng của tháng Tư bà xin nghỉ trước cả tháng. Bà không giải thích, bà chỉ nói rằng nhà bà có giỗ. Người chủ tiệm gật đầu ghi vào sổ và không hỏi thêm. Còn lũ trẻ ở nhà thì biết rõ hơn một chút. Chúng biết vào ngày đó mẹ dậy rất sớm thắp hương bày một mâm cơm nhỏ. Chúng biết không được bật nhạc, không được cãi nhau, không được hỏi. Và chúng biết rằng người được cúng trong ngày ấy là bố chúng dù đã nhiều năm trôi qua mà chưa đứa nào được nhìn thấy mộ ông ở đâu.
Cầu Đất Hải Phòng, mùa hè năm 1954
Cả con phố đang lặng lẽ thu dọn để ra đi. Trên phố Cầu Đất năm ấy, cửa hàng vẫn mở, xe kéo vẫn chạy nhưng không khí đã khác hẳn. Người lớn nói chuyện với nhau bằng giọng thấp hơn thường ngày. Họ nhắc đến một hiệp định vừa ký ở Genève. đến một đường ranh giới chạy ngang đất nước đến những chuyến tàu sẽ rời cảng. Trẻ con thì chưa hiểu gì, chúng chỉ thấy nhà mình bỗng dưng bày ra giữa sàn một chiếc rương gỗ lớn và mẹ chúng ngồi bên cạnh xếp đi xếp lại mấy bộ quần áo. Trong số những đứa trẻ ấy có một cô bé tên Yến.
Cô còn rất nhỏ, nhỏ đến mức sau này khi kể lại cô chỉ nhớ được vài mảnh rời dạc, nhớ mùi nước biển ở cảng. Nhớ tiếng người gọi nhau lẳng giọng, nhớ bàn tay mẹ nắm chặt cổ tay mình chặt đến mức hơi đau và không chịu buông ra suốt cả buổi. Cha mẹ cô đã quyết định vào Nam như hàng trăm nghìn gia đình miền Bắc khác trong năm đó. Cuộc di cư ấy kéo dài suốt nhiều tháng, đưa gần 1 triệu người rời khỏi nơi họ đã sống nhiều đời. Chiếc rương gỗ được đóng lại cả một đời sống cũ nằm gọn bên trong nó. Người ta chỉ mang theo được những thứ thật cần. Vài bộ quần áo, ít giấy tờ, mấy tấm ảnh, một chút tiền, bàn ghế bỏ lại, nhà cửa bỏ lại, hàng xóm bỏ lại. Có những gia đình chia đôi ngay trên bến cảng người đi kẻ ở và họ hẹn nhau 2 năm sau sẽ gặp lại theo lời của bản Hiệp định. Rất nhiều lời hẹn trong số đó đã không bao giờ được thực hiện.
Cô bé Yến bước xuống tàu, tay vẫn nắm áo mẹ, mắt nhìn ngược lại phía bờ, bến cảng lui dần nhỏ lại rồi mất hẳn sau lớp sương biển. Trên bong tàu chật cứng người, có tiếng trẻ khóc, có tiếng cầu kinh, có người nôn thốc vì sóng.
Chuyến đi kéo dài mấy ngày liền. Khi tàu cập bến ở miền Nam, cái nóng ập vào mặt mọi người như một bức tường. Đó là thứ đầu tiên mà những người từ Hải Phòng nhận ra ở vùng đất mới. Nơi không có mùa đông.
Sài Gòn những năm sau đó, gia đình cô Yến bắt đầu lại từ đầu như mọi gia đình di cư khác. Cha mẹ cô xoay sở tìm chỗ ở, tìm việc, tìm trường cho các con. Ở thành phố ấy, người Bắc mới vào, nói giọng khác, ăn uống khác, gọi tên các món đồ cũng khác. Trẻ con bị bạn học trêu vì cái giọng của mình. Cô bé Bắc Kỳ nhỏ nhắn ngày nào ở Cầu Đất được đi học hòa vào đám đông và học rất nhanh. Gia đình quyết định cho cô theo học chương trình Pháp ngay giữa lòng Sài Gòn. Đó là một lựa chọn không hề rẻ và nó nói lên nhiều điều về kỳ vọng mà cha mẹ đặt vào cô.
Trường Đầm khi ấy là nơi con gái nhà khá giả theo học, học trò mặc đồng phục, nói tiếng Pháp trong lớp đọc sách Pháp, viết chính tả Pháp. Cô Yến học ở đó nhiều năm và vốn tiếng Pháp ấy theo bà đi suốt cuộc đời kể cả khi bà đã sang tới nước Mỹ. Chỉ có điều thứ vốn liếng ấy sẽ không bao giờ được dùng vào việc mà người ta hình dung. Chiếc rương gỗ từ Hải Phòng vẫn còn nằm trong góc nhà đựng đồ cũ.
Những năm cuối thập niên 50, Sài Gòn là một thành phố đang phình ra rất nhanh. Người từ miền Bắc vào, người từ miền Trung xuống, người từ các tỉnh miền Tây lên. Ngoài đường, xe nhà binh chạy chung với xe xích-lô trong các rạp chiếu bóng phim Pháp chiếu bên cạnh phim Mỹ. Chiến sự thì vẫn ở đâu đó xa tại những vùng quê mà báo chí nhắc bằng những cái tên nghe rất lạ. Với một nữ sinh trường Đầm chiến tranh khi ấy còn là chuyện của người lớn. Rồi năm cô 17 tuổi, có một người bước vào đời cô. Người ấy là một sĩ quan quân đội, hơn cô hơn 10 tuổi. Đó là một khoảng cách không nhỏ ở một thời mà con gái lấy chồng sớm. Ông đã đi lính từ khi cô còn là đứa trẻ ở Hải Phòng. Ông đã qua nhiều cuộc hành quân, đã sống trong doanh trại nhiều hơn ở nhà. Còn cô thì vẫn đang mặc đồng phục nữ sinh, vẫn học chính tả tiếng Pháp mỗi sáng. Vậy mà giữa hai người ấy có một điều rất hiếm. Từ khi biết yêu cho đến lúc thành hôn, cô Yến chỉ có duy nhất một mối tình. Không có mối tình nào trước đó cũng không có ai khác xen vào giữa. Trong 2 năm quen nhau, ông vẫn đi hành quân, vẫn vắng mặt liên miên. Cô ở lại thành phố đi học, đợi thư, đợi những lần ông về phép ngắn ngủi. Đó là kiểu tình cảm rất đặc trưng của một xứ sở đang có chiến tranh nên người ta yêu nhau bằng những khoảng cách và những lần gặp vội. Cô gái ấy chưa hình dung được cái giá của việc lấy một người lính.
Trong nhà cha mẹ cô cũng có phần đắn đo. Gả con gái cho một sĩ quan tác chiến, nghĩa là chấp nhận rất nhiều điều bất trắc. Nghĩa là con mình sẽ sống ở những nơi đơn vị đóng quân chứ không phải ở đô thị. Nghĩa là mỗi lần có tin chiến sự cả nhà lại phải nín thở chờ. Nhưng cô Yến đã quyết và cô là người con gái rất ít khi đổi ý. Về phía chú rể, gia đình nhà trai gần như không có ai ở bên cạnh.
Ông vô Nam một mình, không anh em ruột thịt đi cùng, không họ hàng gần để nương tựa. Đơn vị chính là gia đình của ông suốt 10 năm trời. Vì vậy, đám cưới năm ấy vừa là ngày vui của hai người trẻ. Vừa là ngày một người lính lẻ loi bắt đầu có một mái nhà thật sự. Có lẽ đó cũng là lý do khiến ông đặt tên các con sau này một cách rất nghiêm cẩn như đặt vào đó cả những gì ông tin.
Một buổi chiều Sài Gòn trước ngày cưới
Người trong họ nhìn cô và thấy một đám cưới đẹp. Chú rể là sĩ quan có tương lai. Cô dâu là nữ sinh trường Pháp. Hai gia đình cùng gốc Bắc di cư. Trên bàn thờ nhà trai hôm ấy có một điều mà rất ít khách để ý. Không có mặt mẹ chồng. Không phải bà cụ ốm. Cũng không phải bà cụ giận. Bà cụ đang ở lại phía bên kia vĩ tuyến tại một làng quê thuộc tỉnh Sơn Tây. Người đàn ông sắp cưới cô cũng là dân Bắc di cư năm 1954. Đúng như gia đình cô, ông sinh ngày 22 tháng 10 năm 1933 tại Sơn Tây, đi lính từ đầu thập niên 50 rồi theo dòng người vào Nam.
Ngày ông bước lên tàu, mẹ ông ở lại.Từ khoảnh khắc ấy, hai mẹ con mất liên lạc hoàn toàn.Không thư từ, không tin tức, không một lần biết được người kia còn sống hay đã mất. Khoảng cách ấy không phải là mấy trăm cây số, nó là một đường ranh giới không thể bước qua. Nghĩa là khi cô Yến về làm dâu, cô về làm dâu một người mà cô chưa từng nhìn thấy mặt. Suốt những năm sau đó, cô sinh 4 đứa con và không đứa nào được bà nội bế lấy một lần. Bà cụ ở Sơn Tây không hề biết con trai mình đã cưới vợ, không biết mình đã có cháu nội, không biết tên chúng là gì.
Sự im lặng ấy kéo dài đúng 21 năm và điều nghiệt ngã nhất nằm ở kết thúc. Mãi đến sau tháng Tư năm 1975 khi gia đình đã sang tới nước Mỹ, họ mới tìm được đường báo tin về miền Bắc. Lá thư ấy mang theo hai tin cùng lúc. Bà cụ biết mình có một cô con dâu và 4 đứa cháu ở bên kia trái đất. Và ngay trong cùng một lá thư đó, bà cụ biết con trai mình đã chết. Nhưng đó là chuyện của hơn 20 năm sau.
Chiếc rương gỗ mang từ Hải Phòng
Sài Gòn mùa xuân năm 1964. Cô gái gần 19 tuổi ấy chưa biết gì hết. Cô chỉ biết mình sắp lấy người mà mình đã yêu từ năm 17 tuổi. Chiếc rương gỗ mang từ Hải Phòng được lôi ra khỏi góc nhà lau sạch, dùng để đựng đồ cưới. Cái rương từng chở một cuộc đời cũ băng qua biển, giờ chở một cuộc đời mới sắp bắt đầu.
Trong đám cưới hôm ấy có một tấm ảnh được chụp lại và tấm ảnh đó sẽ đi rất xa. Nó theo bà qua cuộc chiến. Nó theo bà lên máy bay rời Sài Gòn. Nó nằm trong chiếc ví bà mang tới tiệm tóc ở Virginia mỗi ngày phía sau giấy tờ tùy thân. Lớp nhựa mỏng bọc ngoài đã ngả vàng theo năm tháng. Người đàn ông trong ảnh mặc quân phục, gương mặt gầy, ánh mắt thẳng. Tên ông là Lê Nguyên Vỹ.
Sài Gòn mùa xuân năm 1964, một đám cưới giữa thời buổi không ai dám hẹn xa. Hôm ấy, cô Phan Thị Minh Yến vừa tròn 19 tuổi, chú rể 31 tuổi mang cấp bậc Đại úy. Trong ảnh cưới, cô đứng nhỏ nhắn bên cạnh người đàn ông cao gầy mặc lễ phục. Cô cười kiểu cười khép nép của con gái Sài Gòn thời ấy. Ông thì nghiêm gần như không cười, đôi mắt nhìn thẳng vào ống kính. Nó là gương mặt của một người đã quen đứng trước hàng quân hơn là đứng trước máy ảnh. Tấm ảnh ấy được lồng khung treo lên tường căn nhà đầu tiên của hai vợ chồng. Cuộc sống mới bắt đầu ngay lập tức và nó không giống chút nào với đời sống của một nữ sinh trường Đầm.
Chồng cô là sĩ quan tác chiến nên gia đình phải ở gần nơi đơn vị đóng quân. Từ những dãy phố có cây me và tiệm bánh Pháp, cô chuyển về sống trong khu gia binh. Nhà cửa ở đó đơn sơ vách mỏng mái tôn nóng hầm hập vào buổi trưa. Hàng xóm đều là vợ lính con lính, ai cũng nói cùng một thứ ngôn ngữ của sự chờ đợi.
Người vợ trẻ học rất nhanh. Như hồi bé, cô từng học cách hòa vào đám bạn Sài Gòn. Cô học cách nấu ăn cho đông người vì lính của chồng hay ghé nhà. Cô học cách nhận ra tiếng động cơ của loại xe nào đang vào cổng. Cô học cách không hỏi chồng đi đâu vì có hỏi ông cũng không được phép nói. Và cô học điều khó nhất là ngủ được trong những đêm ông vắng nhà. Trên tường tấm ảnh cưới vẫn treo đó. Ngày càng ngả màu vì hơi ẩm và khói bếp.
Trong 10 năm làm vợ lính, cô đã dọn nhà nhiều lần đến mức không buồn đếm. Chồng cô là người xuất thân từ binh chủng Nhảy dù được thăng Đại úy từ năm 1955. Sau đó ông rời Nhảy dù về Sư đoàn 5 Bộ binh. Ông lần lượt nắm tiểu đoàn, làm chi khu trưởng ở Bến Cát. Rồi đến năm 1965 thì chỉ huy một trung đoàn. Với người ngoài đó là một quân ngũ đẹp. Với người vợ mỗi cái tên đơn vị mới đồng nghĩa với một lần đóng gói đồ đạc.
Chiếc rương gỗ ngày xưa mang từ Hải Phòng giờ lại được dùng đúng vào việc cũ. Bên trong khu gia binh một buổi sáng những đứa con lần lượt ra đời. Đứa đầu là con trai đặt tên Quang, đứa thứ hai cũng trai đặt tên Minh, đứa thứ ba lại con trai đặt tên Chính. Ba cái tên đứng cạnh nhau đã thành một câu và người cha rõ ràng đã tính sẵn từ đầu đến đứa thứ tư, một bé gái chào đời. Và cái tên còn lại được đặt là Đại – Quang, Minh, Chính, Đại ghép lại thành 4 chữ mà người xưa vẫn dùng để nói về cách sống ngay thẳng sáng rõ đàng hoàng. Đó không phải là tên chọn cho đẹp, nó là tâm niệm của một người lính gửi vào các con mình giữa một đất nước đang nghiêng ngả vì chiến tranh. Ông không viết di chúc, không để lại hồi ký nhưng ông đã ghi điều mình tin vào giấy khai sinh của cả 4 đứa trẻ. Riêng cô con gái út thì có tới 2 cái tên và câu chuyện về nó rất dịu dàng. Ở nhà cả gia đình gọi em là em Đại đúng theo cái tên trong bộ 4 chữ kia. Nhưng khi ra ngoài lớp học, cô bé lại mang một cái tên mềm hơn nhiều là Tường Vi.
Người mẹ gốc Hải Phòng đã chọn thêm cái tên ấy cho con gái mình. Một bên là chữ của cha mang khí chất của người lính, một bên là chữ của mẹ mang dáng của một loài hoa. Đứa con gái út lớn lên với cả hai cái tên đó và sau này em giữ cả hai.
(còn tiếp)
TV chép lại và hiệu đính từ bản thâu âm phát thanh trên youtube Ký sử 1975.







