Lên trung học đệ nhất cấp, năm đệ lục thầy Hải dạy Kim Văn cho chúng tôi đọc Anh Phải Sống của Khái Hưng để tập bình giảng. Cuối giờ Lâm Ngươn Tuyến, cháu Đề đốc Lâm Ngươn Tánh đặt câu hỏi: “Nhất Linh vào Nam còn Khái Hưng ở lại miền Bắc ra sao, thưa thầy?” Thầy Hải trầm ngâm rồi nói: “Ông bị Việt Minh đóng cũi trấn nước thả trôi sông năm 47”. Nguyên lớp im phăng phắc vì sợ. Những ai sinh trưởng trong các gia đình Bắc di cư đều nghe cha mẹ kể về sự tàn ác của Việt Minh nhưng vừa đọc xong áng văn gây xúc động với bao cảm phục rồi biết tác giả bị thủ tiêu tàn nhẫn như người ta dìm chó… Chính những chi tiết ấy, như Đại lộ Kinh hoàng, thảm sát trường tiểu học Cai Lậy, Chôn sống Mậu Thân 68 khiến chúng tôi, các nam sinh của trường Lasan Taberd mỗi sáng thứ Hai hát vang Tiếng Gọi Công Dân dưới lá cờ vàng mong muốn lớn lên làm Người Quốc Gia.

Trong nhiều thập niên cái chết của Khái Hưng vẫn còn là một bí mật. Người ta biết ông bị hành quyết nhưng không biết hết chi tiết. Sưu khảo của Thụy Khuê là nghiên cứu đầy đủ nhất cho đến bây giờ.

[Trần Vũ]

Phần 1 | kỳ 1

Thụy Khuê

Trong bao năm, tôi đã cố gắng tìm một tài liệu đáng tin cậy viết về cái chết của Khái Hưng. Bởi vì tôi chắc chắn rằng không dân tộc nào chịu để cho nhà văn vào bậc lớn nhất của mình, chìm trong cái chết vô danh, vô cớ.

Tôi đã đọc khá nhiều bài viết “mô tả” việc sát hại Khái Hưng, nhưng chưa tìm thấy điều gì tin được. Có người đưa ra tới bốn thoại khác nhau, nhưng cũng không có gì khả tín.

Hai văn bản mà tôi dùng ở đây đều đáng tin cậy: thứ nhất, bài của Trần Khánh Triệu, con nuôi Khái Hưng, con ruột Nhất Linh, viết về những ngày trước khi Khái Hưng bị đưa đi mất tích. Thứ hai, bài của Mai Chi Mai Ngọc Liệu, người đã ở trại Lạc Quần trong thời gian Khái Hưng được giải đến, trước khi đưa đi chỗ khác.

Trần Khánh Triệu (năm 1947, 15 tuổi) đã viết ba bài về Khái Hưng:

– Ba tôi (ít kỷ niệm với Khái Hưng), viết sớm nhất, in năm 1954 [1]. Chưa tìm lại được.

– Ba tôi, in trên báo Văn, năm 1964 [2], hiện là tài liệu chính, viết rất nhanh trong hai ngày, nhưng đầy đủ và chính xác.

– Bài Papa tòa báo, in trên Thế Kỷ 21, năm 1997 [3], có những thông tin về gia đình Khái Hưng.

Mai Ngọc Liệu tức Mai Chi, chủ trương Hồn Công Giáo, tờ báo đối lập cùng thời với tờ Việt Nam, năm 1945-46. Tài liệu của Mai Ngọc Liệu, có nhiều chi tiết xác định những điều ông viết về Khái Hưng là đúng, được đăng lần đầu dưới tên Đợi tết trong tù, trên nhật báo Dân Chủ số 925 ra ngày 9-2-1964, tại Sài Gòn. Tạp chí Văn số 22, (15-11-64), số tưởng niệm Khái Hưng, trích in lại, dưới tên Khái Hưng trong tù, tài liệu của Mai Chi, và toàn bài Đợi tết trong tù, được Nguyễn Thạch Kiên in lại trong cuốn Khái Hưng, Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, tập 2.

Chúng tôi sẽ dùng hai tài liệu này để thử tìm lại hành trình của Khái Hưng kể từ ngày 18-12-1946, khi ông rời Hà Nội về Nam Định.

Đoạn đường cuối của một văn hào

Trần Khánh Triệu kể lại trong bài Ba tôi như sau:

Ngày 17-12-46, gia đình đang sửa soạn ăn cơm trưa, thì súng nổ, một lát sau, Tây vào nhà:

“Một thằng Tây cao lớn xông vào nòng súng còn tỏa khói khét lẹt chĩa vào người chúng tôi ra hiệu bảo đi theo hắn. Tới sân mới biết ba tôi cùng mấy đồng chí khác ở toà báo cũng đã bị bắt. Một thằng dáng chừng là cấp chỉ huy, súng lục lăm lăm vặn hỏi ba tôi mỗi lúc một dữ, mặt hắn hầm hầm trái ngược hẳn với thái độ bình tĩnh từ tốn của ba tôi (về sau được biết vì nhà tôi có máy in nên hắn nằng nặc cho rằng máy in chỉ để in báo cho Việt minh, cho tự vệ – khi được biết thêm ba tôi là Việt quốc chống Việt minh, thì hắn càng tức giận thêm vì lại cho rằng Việt quốc thù ghét chúng hơn cả Việt minh nữa.

Thế là cả nhà tôi bị bắt cho đến sáng ngày 18-12 mới được ủy ban liên kiểm Việt-Pháp can thiệp thả ra. Ngay chiều hôm đó chúng tôi lên tầu thuỷ tản cư về Nam Định, hí hửng, tin tưởng thoát khỏi tay những thằng Tây ghê gớm kia để rồi sau đó lại rơi vào một cạm bẫy khác nguy hiểm, tàn ác hơn nhiều…” [4]

Xem thêm:   Chuyển ở trển (08/13/2026)

Để độc giả không quen với địa hình tỉnh Nam Định dễ theo dõi hành trình của Khái Hưng, chúng tôi xin vắn tắt:

Phiá nam thành Nam Định có hai huyện Trực Ninh và Xuân Trường, cách nhau con sông Ninh Cơ. Quê bà Khái Hưng ở làng Dịch Diệp, thuộc huyện Trực Ninh, tả ngạn sông Ninh Cơ. Lạc Quần, nơi giam Khái Hưng, ở hữu ngạn sông Ninh Cơ, thuộc huyện Xuân Trường. Bến đò Cựa gà (có thể là nơi Khái Hưng bị xử tử) ở làng Ngọc Cục, hữu ngạn sông Ninh Cơ về phiá bắc, gần làng Hành Thiện, về phiá Thái Bình.

Trần Khánh Triệu viết tiếp:

“Làng Dịch Diệp quê me tôi thuộc huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định. Tản cư về yên ổn trong hai ngày đến ngày thứ ba bỗng có hai tên Công an trên huyện về, rất lịch sự mời ba tôi lên trên đó gặp Ủy Ban Hành Kháng [Hành chính Kháng chiến] có chuyện cần. Có lẽ cho rằng đương lúc chiến tranh vừa bùng nổ, kẻ thù chính là Pháp, không thể có chuyện bắt bớ những phần tử đảng phái quốc gia khác được, ba tôi bình tĩnh dặn lại mẹ tôi:

– Chắc cấp dưới họ không biết rõ. Để tôi lên huyện xem sao?

Nói xong ba tôi lại chỉ vào cái ve áo có huy hiệu của hội Liên Hiệp (do Trần Huy Liệu tặng cách đó mấy tháng trước để tỏ tình đoàn kết) tiếp:

– Đoàn kết đánh tây, mình vừa thoát chết khỏi tay thằng tây chẳng lẽ mình là Việt gian sao?

Thế rồi ba tôi ra đi. Thân hình gầy trong bộ y phục xám ba tôi đi giữa hai người Công an lực lưỡng khuất dần sau lũy tre làng.

Mấy ngày sau chẳng có tin tức gì, dọ hỏi mới biết ba tôi đã bị giam rồi, mẹ tôi lo sợ vội cho tôi đi cùng một người nhà đem quần áo, thuốc men lên thăm. Vừa đi được nửa đường gặp một đám người đi ngược chiều, anh người nhà tôi la lên:

– Kìa ông Tú.

Thì ra ba tôi cùng một số tội nhân khác đang lếch thếch đi từ huyện Trực Ninh về phiá Cổ Lễ. Vài tên Công an cầm súng áp giải. Tôi nhảy xuống xe chạy tới gần. Thực không thể ngờ được … ba tôi trông tiều tụy hẳn đi. Mắt thâm quầng, quần áo xốc xếch, cái khăn quàng cổ nay đã trở thành tay nải con con cầm tay. Tôi hỏi dồn:

– Họ đưa ba đi đâu?

– Đi Lạc Quần (Lạc Quần thời tây là một đại lý đồn binh cách Trực Ninh khoảng 10 cây).

Đoạn ba tôi nhỏ hẳn giọng tiếp:

– Thôi con về đi. Đừng nghĩ đến ba nữa. Từ nay mẹ con hãy cuốc đất trồng khoai mà sống vậy.

Đương ngơ ngác không hiểu sao ba tôi lại nói những lời ngao ngán như vậy thì mấy tên Công an đã dục lên đường cắt ngang hẳn câu chuyện.

Rồi từ đó cứ cách vài ngày chúng tôi lại lên Lạc Quần mong gặp được ba tôi nhưng lần nào cũng đều thất vọng. Người nhà những người đương bị giam không một ai được phép vào thăm”.[5]

Đến trại Lạc Quần

Mai Ngọc Liệu thuật: Hai tuần trước khi chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ, ông tản cư về quê ở làng Cổ Lễ, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Ngay khi bộ đội đột kích quân đội Pháp ở Thủ đô, Tổng bộ Việt Minh đã ra lệnh bao vây các lực lượng thực dân và bắt giữ các phần tử chống Cộng. Chín ngày sau, trung ương gửi lệnh không được bắn giết bừa bãi, phải lập hồ sơ tội trạng để đưa ra toà án, nên những người bị bắt được giải lên trại Lạc Quần (huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định), bên bờ sông Ninh Cơ, cách chợ Lạc Quần chừng 200 thước.

Mai Ngọc Liệu viết:

Chỉ bốn ngày sau khi ba chúng tôi -Lụy, Thành, Văn- bị di chuyển về trại Lạc Quần, và trong khi anh em chính trị phạm đang bàn tán về chuyện Tết… thì một buổi chiều, mọi người được tin lát nữa sẽ có hai ông bạn mới, hình như công an quận Trực Ninh bắt rồi đưa lên giam giữ tại đây (…)

Một người chừng trên bốn chục tuổi có vẻ hào hoa phong nhã nhưng hơi gầy yếu. Âu phục chỉnh tề: Complet và cà vạt, mũ “phớt”, ngoài khoác pardessus de ville [6] tay xách một cặp da cũ đựng quần áo đồ dùng vặt.

Người thứ hai trẻ hơn cũng mặc âu phục nhưng đơn giản: quần đen, sơ mi và áo len nâu dài tay với một bọc vải gói ghém quần áo và vật dụng.

Trong gian phòng ẩm thấp và thiếu ánh sáng tất cả chúng tôi cùng đứng lên chào đón hai bạn mới. Bỗng anh Văn [7] trố mắt nhìn kỹ hai người rồi thốt lên:

– Tưởng ai xa lạ… hoá ra anh em nhà cả!

Rồi anh ghé tai Lụy nói thầm:

– Anh Khái Hưng đấy; chắc anh đã đọc những tác phẩm của anh ấy rồi. Còn anh giáo Dưỡng vẫn thường đi hoạt động với chúng ta.[8]

Xem thêm:   Nhớ Sài Gòn

Sau đó, Mai Ngọc Liệu nói thêm về trại Lạc Quần và những thành phần bị giam tại đây:

“Hồi ấy Lạc Quần là một chiến khu quan trọng của miền Nam Trung châu Bắc Việt (thuộc Liên khu 3). Trại “lính khố xanh” cũ lúc đó đã biến thành Bộ Tư lệnh của đại tá Việt Minh Hà Kế Tấn. Công an tỉnh Nam Định đặt trại giam gần sát đó để có thể nhờ bộ đội can thiệp tức khắc nếu có xẩy ra những trường hợp bất ngờ (các chính trị phạm nổi loạn hoặc các nhóm quốc gia đánh úp để giải phóng đảng viên). Anh em chúng tôi thuộc nhiều đoàn thể khác nhau: Việt Quốc, Việt Cách, Duy dân, Dân tộc, Công giáo, v.v… không thiếu một đảng phái chống Cộng nào. Đến trung tuần tháng Chạp âm lịch tổng số lên gần 50 người [9]

Về đời sống của Khái Hưng trong trại Lạc Quần, Mai Ngọc Liệu viết:

“Đời sống ở đây tương đối dễ chịu vì lúc đó Việt Minh còn bận tổ chức kháng chiến chống Pháp, chưa nghĩ tới việc hành hạ chúng tôi. Ngoài điểm ăn ngủ kham khổ, chúng tôi không hề bị gông cùm xiếng xích, và cũng không phải làm gì cực nhọc (…) Tuy nhiên không phải là không có những cuộc tra tấn (…) Và mỗi buổi sáng chúng tôi lại thay phiên đấm bóp và săn sóc những nạn nhân đêm trước.

Bởi vậy, ngay buổi sáng ngày thứ nhì, anh Khái Hưng đã nhìn thấy rõ “nếp sống và thủ tục trai giam”. Và cũng từ buổi đó, chẳng bao giờ chúng tôi được nghe anh nói một mảy may gì liên quan tới chính trị hay là tình thế. Mặc dầu trông đợi phiên mình, thế nhưng trong suốt thời gian (vào khoảng 15-20 ngày) chung sống với chúng tôi, anh chẳng bị bọn chúng gọi lên chịu trận một lần nào cả. Trái lại, có một số công an viên, kể cả đồn trưởng Thịnh tỏ ra rất hâm mộ và kính nể anh.

Có lẽ không gì khổ tâm hơn cho một nhà văn khi phải sống trong cảnh hoàn toàn không giấy bút và không sách vở. Lúc ra đi, bọn Công an không cho anh mang theo một chút gì để đọc và viết. Tới đây, anh đành bó tay, và luôn ngỏ ý thèm đọc, bất cứ sách gì. Một hôm nhìn thấy một tập sách cũ trong phòng một công an viên, anh nhờ Lụy tìm cách mượn giùm nhưng đây là một quyển sách đạo mà chủ nhân là một tên khét tiếng hách dịch, bởi vậy hai người đành bỏ rơi việc đó. Rồi bỗng nhiên hai ngày sau một công an viên khác -anh Thân- vì cảm mến Khái Hưng đã mang tặng anh một tập giấy trắng với một cây bút chì trong lúc chúng tôi đang ngồi quây lại để anh xem tướng cho từng người. Anh Khái Hưng xem tướng rất giỏi -cả tướng tay lẫn tướng mặt. (…)

Từ lúc có giấy bút chiều nào Khái Hưng cũng ra bờ sông ngồi viết nhật ký. Công an viên Thân thường lui tới để nhờ anh sửa văn. Và bọn anh em chúng tôi cũng bắt đầu gác bỏ đề tài Tết để nhảy sang địa hạt văn nghệ. Cũng từ bữa đó, anh Khái Hưng đã nói khá nhiều với chúng tôi về các vấn đề văn chương, thi ca, tiểu thuyết. (…).

Lúc nào Khái Hưng cũng tỏ ra bình thản và vui tính. Ngoài những cuộc đàm luận văn chương, anh còn thích đánh cờ và rất ham nói chuyện và trong bất cứ chuyện gì anh cũng xen vào những câu khôi hài rất dí dỏm và đầy lý thú. (…)

Tối nào nào anh cũng kể cho nghe một chuyện, hoặc Liêu trai, hoặc những kỷ niêm làm báo viết văn và ở tù. Mẩu chuyện của anh mà cả hai chúng tôi (Lụy và Thành) nói mãi tới nay là chuyện anh tâp hút thuốc lào trên trại giam Vụ Bản (Hoà Bình): “Tuy không biết hút thuốc nhưng tôi đã gắng tập hút để có thể nhập bọn và gây tình thân thiết với các chú lính Mường. Sau đó, đêm nào tôi cũng tụ họp với họ chung quanh một chiếc điếu cầy “gộc” luân phiên liên hồi hút thuốc lào và kể chuyện. Tôi đã được nghe nhiều chuyện đường rừng rất ly kỳ, tôi cũng kể nhiều chuyện lịch sử và thần tiên. Chỉ một tuần sau tất cả đám lính Mường canh giữ trại đều trở nên “ghiền” chuyện, mỗi khi hơi rảnh rỗi là họ đi tìm tôi và đòi kể chuyện như đòi nợ.”

Ngoài ra anh Khái Hưng còn là một người rất giàu tình cảm. Mỗi lần nói chuyện hoặc kể chuyện, không bao giờ anh quên nhắc tới một vài bạn cũ, và gặp ai anh cũng tùy trường hợp hỏi thăm tin tức về người anh đã từng quen biết. Trong thời gian với chúng tôi, một hôm cậu con nuôi muốn [10] tới thăm anh. Và đêm hôm đó anh lại có dịp cho chúng tôi nghe những mẩu chuyện tình bạn giữa anh và văn sĩ Nhất Linh nhưng không hề đả động gì tới cuộc đời cách mạng của hai người[11]

Xem thêm:   Chợ nổi Ngã Năm (Sóc Trăng)

Về hôm Khái Hưng rời trại Lạc Quần, Mai Ngọc Liệu kể:

Rồi một buổi chiều… Hôm đó quá Rằm -có lẽ 16, 17 hay 18 tháng Chạp âm lịch, một ngày cận Tết- vào khoảng 4-5 giờ trong khi chúng tôi sắp ăn cơm tối, tên Thoại (công an xung phong) tới báo cho Khái Hưng biết rằng có lệnh mời anh lên “Trung ương” vì cấp tỉnh không có quyền thẩm vấn và xét xử anh. Hắn dục anh thu xếp đồ đạc để cùng đi ngay với hắn, đi lúc chiều tối để tránh máy bay địch.

Mười phút sau, anh đã sẵn sàng trong bộ âu phục với áo choàng, mũ “phớt” và chiếc cặp da cũ trong tay như khi anh vừa mới bước chân tới trại Lac Quần. Bùi ngùi cảm động… anh đi bắt tay từ biệt từng anh em phạm nhân… Anh Văn rơi lệ… Mọi người buồn xỉu…

“Chào anh em ở lại”, đó là lời nói cuối cùng của Khái Hưng. Câu đó tới hôm nay vẫn còn in sâu trong tâm khảm hai chúng tôi. Dù anh không nói thêm lời nào nữa, nhưng chúng tôi đều nhìn thấy trên vẻ mặt Khái Hưng một nỗi ư tư vô hạn… Có lẽ vì đã cảm thấy rằng chuyến đi này sẽ kết liễu đời anh…

Từ hôm đó, nhóm chúng tôi -Văn, Lụy, Thành, Xuân- chẳng ai buồn để ý đến cái Tết sắp tới, mà chỉ suốt ngày nhắc tới kẻ ra đi không có ngày về…” [12]

Bài viết của Mai Ngọc Liệu, đến đây là hết. Một số bài viết sau, cũng kể lại câu chuyện tương tự nhưng đưa ra những chi tiết khó tin, có người còn thêm: hai người dẫn Khái Hưng đi hôm sau trở lại trại giam, một người mặc áo pardessus, một người đội mũ phớt!

(còn tiếp 1 kỳ)

[1] Ba tôi, ít kỷ niệm với Khái hưng, in trên tuần báo Mới số 84, 85 và 86 (tháng 6-7 năm 1954).

[2] Ba tôi, in trên báo Văn số 22, ra ngày 15-11-1964, số tưởng niệm Khái Hưng.

[3] Papa toà báo, in trên Thế Kỷ 21, số tưởng niệm Khái Hưng (tháng 12-1997). Sau in lại trong sách Nhất Linh người nghệ sĩ-người chiến sĩ, Nxb Thế Kỷ, California, 2004.

[4] Trần Khánh Triệu, Ba tôi, Văn số 22 (15-11-1964) Tưởng niệm Khái Hưng, trang 19-20.

[5] Trần Khánh Triệu, Ba tôi, Văn số 22 (15-11-1964), trang 20-21.

[6] Pardessus de ville áo choàng ngoài, phiên âm là ba-đờ-xuy, còn gọi là áo măng-tô đàn ông.

[7] Lưu Ngọc Văn, tác giả hai tập sách hát trẻ em do nhà Đời Nay xuất bản trong loại sách hồng vào khoảng 1940-41, chú thích của tác giả.

[8] Mai Ngọc Liệu, Đợi tết trong tù, in trong Khái Hưng, Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, tập 2, trang 853-854.

[9] Mai Ngọc Liệu, Đợi tết trong tù, in trong Khái Hưng, Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, tập 2, trang 856-857.

[10] Bản in trên báo Văn có chữ muốn, bản in trên sách Khái Hưng, Kỷ vật… bỏ chữ muốn, có lẽ vì biên tập không biết việc người nhà đến thăm, nhưng không được vào trại, như lời Trần Khánh Triệu. Điều này chứng tỏ Mai Chi viết đúng cả.

[11] Mai Ngọc Liệu, Đợi tết trong tù, in trong Khái Hưng, Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, tập 2, trang 857-860.

[12] Mai Ngọc Liệu, Đợi tết trong tù, in trong Khái Hưng, Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, tập 2, trang 860-861.