Đoạn Đường Chiến Binh

Hồi ký của Hải quân Trung úy Nguyễn Nhật Cường về những ngày cuối tháng 4 ngập bi thảm. Cũng nói lên khiếm khuyết của Bộ Tổng Tham Mưu VNCH dưới quyền Đại tướng Cao Văn Viên: Trong suốt cuộc chiến đã sử dụng Hải quân như phương tiện tuần tra và vận chuyển, không hề có chiến lược nào khác như thu hút chủ lực Bắc-Việt ra sát duyên hải rồi dùng hải pháo hủy diệt hoặc đổ bộ sau lưng Bắc quân đang tiến xuống Huế… Bộ Tổng Tham Mưu VNCH mang cùng căn bệnh của Bộ Tư Lệnh Pháp đã không bao giờ hội ý các tướng lĩnh Không quân hay các Đề đốc Hải quân khi soạn thảo kế hoạch mà chỉ trao cho họ phần vụ thi hành các quyết định từ phía Bộ binh. Là một trong những nguyên nhân khiến Hải quân VNCH không giữ vai trò quan trọng trong nội chiến Nam-Bắc. [Trần vũ]

Hải quân Trung úy Nguyễn Nhật Cường | Trần Văn Giang ghi

Kỳ 1

Buổi chiều Sài gòn, một ngày cuối tháng 3 năm 75, sau chuyến công tác miền Trung dài dằng dặc, tôi rủ Tăng, thằng em trai, đi đánh “bida” ở bờ sông Khánh Hội, bên cầu Calmette. Vừa về tới nhà, thì thấy con nhà Cần đã đứng chờ trước cửa. Cần, cao ốm với cái lưng tôm quen thuộc, thằng bạn trên chiến hạm, ở cùng phòng, đi cùng ca, cùng làm những chuyện nhảm nhí của những thằng sĩ quan trẻ trong thời loạn lạc. Với vẻ mặt nghiêm trọng ít thấy, Cần bảo Hạm Trưởng cho gọi tất cả nhân viên vào tàu chuẩn bị đi công tác Đà Nẵng ngay trong đêm. Thông báo xong, Cần vác xe Honda chạy vội về nhà vớ mấy món đồ cá nhân cần thiết vì đã bị ở lại tàu từ ngày hôm trước trong nhiệm vụ sĩ quan trực. Tuy hơi bỡ ngỡ nhưng không ngạc nhiên lắm vì đã quen với những chuyện bất ngờ của đời nhà binh, tôi hỏi Tăng có muốn đi theo tàu ra ngoài Trung chơi cho biết. Cậu em tôi đồng ý ngay vì đang nghỉ giữa niên khoá của trường Đại Học Khoa Học, thế là hai anh em tôi vào nhà sửa soạn hành trang lên đường.

Từ giã gia đình – lính thời chiến thì mỗi lần đi đều có thể là một lần vĩnh biệt, tôi và thằng em, bị gậy, nhảy lên chiếc xe Honda S50 cũ trực chỉ cầu “C” của bến Bạch Đằng, nơi mà chiếc LST (Landing Ship Tank), Dương Vận Hạm Nha Trang, HQ505 đang nằm bến. Vừa lái xe vừa lầm bầm như đĩ khấn tiên sư, tôi chưa hết hậm hực vì không được ở lại Sài Gòn lâu hơn tí nữa, nhất là rất ít khi tàu được cặp ở cầu “C”, cầu tàu lý tưởng nhất của dân hạm đội. Nằm ngay trung tâm Sài Gòn, trước tượng Trần Hưng Đạo. Đứng trên tàu thì tha hồ ngắm nghía các tài tử giai nhân của Sài Gòn hoa lệ. Bước xuống khỏi hạm kiều là đầy các xe khô mực, chè, cháo, tự do hẹn bạn bè, đào địch lai rai. Cầu tàu lại ở bên ngoài cổng chính của Bộ Tư Lệnh, tức là ngoài vòng kiềm toả của băng “Quét Chợ” (Quân Cảnh) QC201 Hải Quân, khỏi lo bị hỏi giấy đi bờ, sự vụ lệnh, hoặc bực mình vì những lời hăm dọa hay móc lò về mái tóc nghệ sĩ nửa mùa, không đúng tiêu chuẩn trước hai phân sau một phân, mà chẳng ma nào để ý từ lúc ra khỏi quân trường. Sau buổi điểm danh, trong một cuộc họp ngắn ngủi, Trung tá Nguyễn Văn Nhượng, Hạm Trưởng, cho biết tàu được chỉ định xuống thành Tuy Hạ lấy đạn để tiếp tế gấp cho miền Trung đang bị áp lực nặng nề. Bơm nước, lấy dầu xong, tàu kéo còi nhiệm sở hải hành. Những tiếng còi ngắn ngủi tiếp nối vào nhau như những chiếc hôn tạm biệt vội vàng, HQ505 tháo dây từ giã Sài Gòn giữa lúc không khí hầm hập của ban ngày đang dịu dần và những cuộc vui về đêm của thành phố bắt đầu hâm nóng. Tàu tách bến, dựa khung sắt tròn che đạn quanh pháo tháp khẩu đại bác 40 ly nòng đôi, trong nhiệm sở trưởng sân mũi, tôi nhìn bâng quơ xuống hai chiếc xuồng LCVP (Landing Craft Vehicle Personnel) chạy loanh quanh chờ lệnh đẩy phụ tàu mẹ trong lúc vận chuyển. Chung quanh, nhóm thủy thủ đoàn vừa làm việc vừa luyến tiếc liếc nhìn về những ánh đèn màu xa dần với cái nhìn tiếc nuối quen thuộc của mỗi lần công tác.

Tàu cập cầu thành Tuy Hạ, nhân viên kho đạn đã chờ đợi sẵn với đèn đuốc sáng choang, gấp rút đóng những dàn gỗ chêm hai bên thành tàu, bên trong hầm chiến xa, để các thùng đạn được dựa sát vào nhau, khỏi bị lắc gây chạm nổ khi ra biển. Xe xúc và cần trục hì hục cả đêm, chuyển xuống hầm tàu hơn 2,000 tấn đạn. Nếu không vì thời hạn cấp bách, tôi và Cần thể nào cũng dọt xuống khu gia binh Tuy Hạ, đánh bida, uống cà phê, ăn sáng, ăn khuya như những lần trước. Chúng tôi lê lết đến độ đã có lần Hạm Phó Phạm Văn Há cho người tìm mãi không ra, vừa mò về đến nơi là bị mời ngay lên trình diện. Ngài Hạm Phó mặt mày nhăn nhó như sắp khóc, vừa xỉ vả vừa như năn nỉ, tôi và Cần thì cứ đứng cười cầu tài (hay nói theo con nhà Cần là “vén môi lên cười tồ tồ”) rồi cũng huề cả làng, nhìn trước nhìn sau, hở ra là lại dọt tiếp.

Xem thêm:   Morocco huyền bí & nỗi nhớ

Tuy có quậy chút chút, nhưng vui vẻ và được việc, nên thường cũng chỉ bị quay cho có lệ. Không biết vì cuộc sống nhà binh, vì xa nhà, vì còn trẻ, vì ham chơi hay vì tất cả những cái lăng nhăng này cộng lại, mà cuộc sống chúng tôi thật vô tư, lúc nào vui được là cứ vui, “tới luôn đi bác tài”. Nằm thành Tuy Hạ, nếu tối không trốn đi đâu được, thì giải trí bằng cách ra lan can tàu ném lựu đạn MK3 xuống sông hay xách súng bắn lục bình, trôi dập dềnh từng đám đầy sông. Trước là mua vui, sau là … chống người nhái VC, mấy anh đặc công này thích chơi cái trò ôm mìn nam châm núp dưới mấy bè lục bình lặn tới ịn vô lườn tàu. Bắn chán rồi thì lại vào phòng đàn hát; Cần đệm “guitar” rất hay lại thêm vài tay SQ thích rên ư ử nên chúng tôi có thêm một trò tiêu khiển.

Sáng hôm sau, đạn đã chất xong, chờ con nước đứng, tàu tháo dây lừ đừ trở mũi ra cửa Vũng Tàu. Theo lệnh công tác chúng tôi trực chỉ Đà Nẵng. Trên hai năm đi về, tôi đã thuộc nằm lòng con đường biển ra Trung, từ những mỏm núi đến các hải đăng, những điểm chấm tọa độ nằm dọc hải trình. Mỗi lần lên nhận bàn giao ca, chỉ nhìn vào bờ tìm những dạng quen thuộc của các dãy núi và những nét cong của bờ biển, tôi đã có thể có một khái niệm khá rõ ràng về tọa độ của tàu trước khi nhìn đến hải đồ.

Được bổ sung thêm với số sĩ quan của khoá 26 Nha Trang mới ra trường, mỗi ca hải hành của HQ505 có đến 4 hay 5 sĩ quan, thay vì chỉ có 3 như những năm trước đó. Ca tôi gồm có tôi làm trưởng phiên, Cần là phụ tá và thêm hai ngài Thiếu Úy nhí, B. và Tr., đang tập sự rất dễ thương (mới ra trường, còn say sóng, ôm sô ói dài dài như mấy bà ốm nghén mà không dễ thương thì làm gì ai!) Tôi và Cần tương đối hợp gu nên đi ca lúc nào cũng có chuyện đấu hót tíu tít, toan tính chuyện lọc lừa, phá phách, làm vui cuộc sống cho đỡ nhớ nhà, nhớ người.

Chu Lai

Sau hai ngày lênh đênh, tàu đang dập dềnh, lừng khừng tiến vào hải phận của Vùng Một thì chúng tôi bỗng nhận được công điện từ Bộ Tư Lệnh Vùng Một Duyên Hải, chỉ thị cho tàu nằm lại ở phía ngoài Chu Lai chờ lệnh. Khoảng hơn mười giờ sáng, một chiếc trực thăng đáp xuống boong tàu. Bước xuống là một sĩ quan bộ binh với ngôi sao đen trên cổ áo của bộ quân phục thẳng nếp, theo sau bởi một sĩ quan tùy viên. Vị Chuẩn Tướng được hạm trưởng Nhượng đón thẳng vào phòng họp sĩ quan.

Hơn nửa tiếng sau, hạ sĩ B. chạy vội ra tìm tôi mời vào phòng họp. Tôi được giới thiệu với Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn trấn đóng tại Chu Lai, mà nếu tôi nhớ không lầm là Sư đoàn 2. Hạm Trưởng Nhượng cho biết tôi phải đi với Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp vào Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 2 để nhận chỉ thị thẳng từ BTL Vùng Một Duyên Hải. Tôi chào tay rồi vội vã quay lưng bước về phòng riêng chuẩn bị ra đi. Con nhà Cần đã chờ sẵn trong phòng để hỏi tôi về lý do chuyến đi sắp đến. Vừa mở tủ lấy khẩu súng Colt 45 nhét vào lưng quần, vừa ngập ngừng trả lời là chính tôi cũng chưa rõ lý do. Như muốn giấu vẻ quan tâm, Cần ra cái điều khôi hài bảo tôi: “Cẩn thận chứ đi lính Hải Quân mà lại tịch trên máy bay thì tao chả biết phải nói sao với gia đình mày.” Tôi cười cười bước vội khỏi phòng, theo Tướng Hiệp leo lên chiếc trực thăng cánh quạt quay tít đang chờ sẵn.

Sau khoảng 10 phút bay, những dãy nhà ngói đỏ của BTL Sư Đoàn bên dưới hiện rõ dần. Sự nôn nao từ lúc leo lên máy bay bắt đầu được thay thế với cái cảm giác hồi hộp khi trong mắt tôi, bên dưới, những vỉ sắt lót của bãi đáp trực thăng đang bị đạn pháo địch rót vào, nổ xoắn lại, bắn tung lên trong cát bụi mịt mù, theo sau là những tiếng nổ trầm trầm dội lại, bị át đi bởi tiếng xoành xoạch của cánh quạt máy bay. Từ tiếng báo cáo của máy liên lạc trực thăng, tôi nghe loáng thoáng là Việt Cộng đang liên tục pháo kích vào căn cứ.

Trong hơi nóng giữa trưa ngùn ngụt bốc lên từ bờ cát biển, hình ảnh những vỉ cắt cong queo, tung lên trong đám mây bụi và khói đạn pháo mịt mù, trông lung linh quái dị như những ảo giác trên sa mạc. Chờ lúc đạn pháo vừa chậm lại, chiếc trực thăng chao một vòng rồi lao thẳng xuống bãi đáp như con diều hâu săn mồi. Cản đáp vừa chạm đất, chiếc xe Jeep của Tướng Hiệp đã đến sát bên cạnh. Tôi tháo vội sợi dây an toàn, nhảy khỏi trực thăng phóng vào phía sau xe theo sau ông Tướng Tư lệnh. Chiếc xe vụt thật nhanh về phía Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn. Bước khỏi xe, tôi theo Tướng Hiệp vào BTL và xuống thẳng hầm chỉ huy. Trong hầm chỉ có khoảng hơn chục người với những dàn máy truyền tin chồng chất lên nhau trong những tiếng báo cáo hỗn độn từ các đơn vị đóng ở vòng đai căn cứ.

Xem thêm:   Xã-Lạc-Cư

Đang tò mò, nhìn quanh quan sát, thì Tướng Hiệp đưa cho tôi cái điện thoại đỏ chói. Đầu dây bên kia là tiếng nói của Tư Lệnh Vùng Một Duyên Hải, Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại (mà chúng tôi hay gọi đùa với nhau là Hồ Văn Kỳ Cục). Sau khi tôi tự giới thiệu tên họ, cấp bậc và chức vụ, PĐĐ Thoại cho biết chúng tôi được chỉ định thay đổi công tác để ủi bãi di tản Sư Đoàn 2 của Chu Lai ngay đêm đó. Tôi trình bày với PĐĐ Thoại rằng chúng tôi đang chở trên 2,000 tấn đạn, thêm vào đó, từ mấy năm trước khi quân đội Mỹ rút khỏi Chu Lai, bãi biển ở đây đã không được vét, cát bồi của mấy năm liền có thể sẽ làm việc ủi bãi đón quân trở nên rất khó khăn và nguy hiểm. Tôi còn nhớ mãi câu trả lời với giọng nói bực bội và mỏi mệt của PĐĐ Thoại: “Các anh có lệnh vào Chu Lai đón lính, các anh làm sao thì làm, không khéo kẹt lại, ráng chịu!”

Hơi cụt hứng với câu trả lời, nhưng nhà binh mà, thi hành trước khiếu nại sau quen rồi, chào PĐĐ Thoại trên điện thoại, trả máy cho Tướng Hiệp, tôi chào tay, xin phép ông để ra quan sát bãi biển rồi trở về chiến hạm. Chờ tiếng đạn pháo thưa bớt, anh tài xế Tướng Hiệp chở tôi ra bãi. Nhìn bãi biển chạy dài trước mặt Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn với một cầu tàu nhỏ nằm tận cánh trái của BTL, tôi ngao ngán không biết làm sao để đo độ nông sâu của vùng biển mà chúng tôi được chỉ thị ủi bãi đêm nay. Trở lại trực thăng, tôi không khỏi ngạc nhiên khi thấy bên trong chiếc máy bay nhỏ đã có cả chục người đàn bà và trẻ con, bên ngoài lại còn thêm một số người nữa đang xin được theo lên. Anh Trung Úy phi công cười cầu tài, giải thích rằng đây là gia đình binh sĩ mà anh quen, xin được ra tàu trước. Tuy chưa có lệnh, nhưng thấy thật khó xử vì các bà ôm con nhao nhao năn nỉ, tôi đành để những người đang ở trên máy bay ngồi lại và yêu cầu anh phi công cất cánh ngay. Tôi cũng chẳng muốn nhì nhằng giữa vùng khói đạn mịt mù trong những tiếng nổ lúc xa lúc gần của những trái pháo đang liên tục rót vào.

Đáp xuống chiến hạm, sau khi báo cáo những sự việc vừa qua với hạm trưởng, các sĩ quan được thông báo để chuẩn bị nhân viên, súng đạn và dụng cụ cho nhiệm sở ủi bãi và tác chiến vào bất cứ lúc nào.

Chiều xuống dần, hoàng hôn trên biển vẫn thơ mộng như bao giờ. Trong vùng tối nhạt nhoà, chân trời mờ dần rồi mất hẳn, biển trời quyện vào nhau thành một. Trăng trên biển, trong hơn, to hơn, treo lơ lửng. Ánh sáng bàng bạc êm ái tỏa xuống mặt nước, làm thắm thiết thêm những nhớ nhung lãng mạng của “vầng trăng ai chẻ làm đôi, nửa soi gối chiếc nửa soi dặm trường” trong lòng người đi biển… Hàng ngàn vì tinh tú lần lượt trải dài khắp bầu trời nhung đen. Hàng triệu đốm lân tinh li ti trong nước chợt thức giấc, ngời sáng, đuổi bắt, quấn quýt vào nhau theo từng cơn sóng. Những đợt sóng đem lại cái cảm giác ngầy ngật mà từ cao độ của đài chỉ huy, khi ngón tay mát lạnh của những cơn gió mặn mơn trớn trên da thịt, tôi từng chơi vơi, ngỡ ngàng không biết mình đang là cánh chim dạ hành lẻ loi trên biển, hay là chú cá cô đơn đang ngơ ngẩn ngắm trời đêm… Nhưng hôm nay, với hình ảnh, gương mặt thật gần của chiến tranh vừa trực diện và trong cái nôn nao pha lẫn bồn chồn, hồi hộp của những gì sắp đến, tôi chẳng còn chút tâm hồn nào để mơ mộng.

Càng vào đêm, những đường đạn lửa bắn lên, đan chéo vào nhau từ phía bờ Chu Lai càng nhiều, hằn rõ trên nền trời đen thẫm. Những tiếng nổ ầm ì vọng ra chiến hạm. Hỏa châu bắn lên mỗi lúc một nhiều. Khoảng chín giờ tối, chúng tôi được lệnh ủi bãi. Trời bỗng trở gió lớn. Biển động mạnh. Những làn sóng cấp 2 rồi cấp 3 liên tiếp bổ vào phía sau lái của con tàu đang tiến vào bãi biển bên cánh phải, trước Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn. Nhiệm sở tác chiến, trong vùng tối chập chờn, từ pháo tháp của khẩu 40 đôi sân mũi, tôi thấy những bóng đen hỗn độn kéo ra phía bờ biển. Tàu vào gần, họ kéo ra càng lúc càng đông. Trong ánh hoả châu từ những cánh dù trắng, chợt bừng lên, lơ lửng rồi vụt tắt, những bóng người di động trên bãi biển lúc ẩn lúc hiện như đám ma trơi. Bỗng nhiên, từ phía sau Bộ Tư Lệnh, một đám lửa khổng lồ chợt bùng lên, soi sáng cả một góc trời cùng một tiếng nổ vang dội, tiếp theo bởi từng loạt tiếng nổ, lớn nhỏ, liên tục chồng lên nhau. Kho đạn của Sư đoàn phát nổ, không biết là trúng đạn pháo kích hay tự phá hủy. Hàng ngàn tia lửa đua nhau vụt bắn lên tứ phía trong những tiếng nổ hãi hùng. Một màng lưới kinh hoàng như bỗng dưng chụp thẳng xuống đám đông trên bờ biển, lúc này đã lên đến hàng trăm. Cảnh hỗn loạn bắt đầu diễn ra.

Xem thêm:   Thoát chết

Từ trên pháo tháp, tôi nhìn thấy vài ba chiếc thiết vận xa lội nước M113 hoảng hốt lao từ phía trong ra bờ biển. Trên nóc xe, những người lính bộ binh bám kín đen, như đám kiến trên cục đường. Xe nhào ra, nghiêng ngả như người say, cán càn qua những người phía trước chưa kịp tránh. Tàu tiến vào gần. Neo sau đã thả. Hai cánh cửa trước mũi tàu vừa được mở ra. Cửa đổ bộ bên trong đang được chuẩn bị. Cửa đổ bộ hay còn gọi là cửa ram là một tấm sắt nặng 2 tấn, một đầu nối liền với sàn tàu của hầm chiến xa, đầu kia được treo lên, khi hạ xuống trông như một cái lưỡi dài thè ra từ cửa miệng chiến hạm. Cách bờ khoảng hơn trăm thước, tàu chợt đứng sựng lại.

Điều chúng tôi hy vọng không xảy ra, đã xảy ra, bãi biển quá cạn vì cát bồi, tàu không thể vào gần hơn. Cố gắng nhưng không thể tiến thêm được, Hạm Trưởng ra lệnh bắn dây mồi. Dây mồi là một sợi dây nhỏ mà một đầu đã được cột vào cái thòng lọng của sợi dây cáp ny lông lớn gài trước mũi tàu, đầu kia được bắn lên để người trên bờ có thể dùng sợi dây mồi kéo đầu sợi dây cáp lớn vào, cột lên một mốc giữ vững chắc trên bờ. Vất vả lắm chúng tôi mới ra hiệu cho những người đang hốt hoảng trên bờ để cột được đầu dây cáp “ny-lông” vào một cái neo thật to, chôn sẵn trên bãi.

Trên bãi biển dài hơn 2 cây số phía trước Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn người ta ùa ra như kiến vỡ tổ. Cả lính và cả dân, tay bồng tay bế, họ chạy tất tả, mắt hướng về chiến hạm. Trong tiếng sóng vỗ ầm ì, tiếng gió rít lạnh lùng, tôi tưởng như còn nghe được cả những tiếng thét, tiếng gào thất thanh, lạc lõng trên bờ biển. Những người lính súng trên tay, dây lưng đầy lựu đạn, ba lô hành quân nặng chĩu phía sau, là những người đầu tiên lội ùn xuống biển, mặc cho những đợt sóng lớn vô tình đập liên tục, không thương tiếc. Ngã xuống, có người chìm hẳn, có người gượng đứng lên tiếp tục vùng vẫy, tuyệt vọng lội về phía chúng tôi. Cửa đổ bộ được hạ xuống. Vướng vào cát, cánh cửa chỉ xuống cách mặt nước hơn một thước thì ngừng lại. Trên cửa đổ bộ, tôi và những anh em trong ban chuyển vận, súng M16 trên tay, dàn hàng ngang chuẩn bị.

Trước mắt chúng tôi, chỉ khoảng hơn một trăm thước từ tàu đến bờ biển, đã có cả chục xác người dập dềnh trong sóng biển. Những người lính hốt hoảng đáng thương, nhào xuống biển với cả mũ sắt, giày bốt và quân dụng nặng nề, trước những đợt sóng biển tàn nhẫn bất thường, đã kiệt sức, xuôi tay chấp nhận cái chết đến thật tình cờ. Số người chạy xuống biển càng lúc càng tăng. Vài người lính đầu tiên đã lội tới chiến hạm. Tấm sắt cửa đổ bộ hạ xuống hết vẫn còn cao đến ngực. Chúng tôi quăng dây thừng hay đưa đầu súng cho họ nắm để kéo lên tàu. Những người mới lên, được yêu cầu bỏ hết quân dụng, vũ khí vào một góc để phụ kéo những người khác vừa lội đến.

Trong ánh lửa bập bùng, một chiếc thiết vận xa như một con cá mập khổng lồ bỗng lừ lừ tiến đến, đâm sầm vào cánh cửa đổ bộ đang nhấp nhô theo từng cơn sóng. Cùng với tiếng va chạm chói tai của hai tảng sắt là những tiếng thét hãi hùng và những thân người từ chiến xa bị ném tung lên, người thì rớt xuống biển ngoi ngóp lội, người thì rơi lên cửa đổ bộ quằn quại đau đớn. Chiếc thiết vận xa bị vào nước chìm dần, những người bên trong vội vã chui lên nhảy xuống biển thoát thân, người nọ đè lên người kia trong hỗn loạn. Một cảm giác lạ lùng ập đến tự lúc nào. Tôi bỗng thấy như đang đứng trong một cơn mê, thản nhiên nhìn một cảnh tượng thật quái dị, kinh hoàng và thấy cả chính mình trong đó. Đầu óc tôi như tê dại đi, dường như tôi không còn nắm được cảm nghĩ, cảm giác nào. Cái sống, cái chết bỗng không còn một ý nghĩa gì đặc biệt. Sinh mạng những con người trước mặt tôi bỗng chẳng còn mang chút giá trị nào, chỉ như những con sâu, con kiến, mà sợi dây xích khổng lồ, tàn nhẫn, của bánh xe chiến tranh đang lăn qua một cách thật vô tình.

(còn tiếp)