Những thiếu niên sinh ra trong các gia đình Bắc di cư 1954 không có quê, vì quê bên kia vĩ tuyến. Nên Phước Tuy là quê tôi. Vì là vùng đất đầu tiên khi bố mẹ, ông bà và các cô chú vào Nam sinh sống. Thập niên 60 rời lên Sàigòn nhưng mùa Hạ nào chúng tôi cũng về Ô-Cấp. Nên tôi quen thuộc lắm những cồn cát, những hàng dương, các địa danh Long Hải, Long Điền, Bà Rịa… Những trang ký ức của Quân Nguyễn tái hiện cảnh vật và kỷ niệm.
Không phải là nhà văn chuyên nghiệp, cũng không là nhà báo nhưng các trang tạp ký của Quân Nguyễn chan chứa hoài niệm và sống động. Xin phép ông cho giới thiệu đến bạn đọc của tuần san Trẻ.
[Trần Vũ]

Quân Nguyễn
Ngày xưa cứ mỗi lần nấu cơm, khi cơm vừa sôi ngoại thường chắt ra một chén nước cơm màu trắng đục nóng hổi quyện mùi thơm của gạo Nàng Thơm. Múc hai muỗng đường cát vàng cho vào chén nước cơm quậy đều là có được một món uống thật ngon lành, bổ dưỡng.
Nấu cơm và chắt nước cơm có thể xem là một nghệ thuật nội trợ của những người bà, người mẹ, người chị ngày xưa. Một nồi cơm được canh nước, canh lửa để không nhão, không khô, không khét và chắt được một chén nước tinh túy từ hạt gạo chắc chắn phải được đúc kết từ một kinh nghiệm nấu cơm từ thuở còn nhỏ cho đến lúc lấy chồng của một người phụ nữ, chưa kể khi nấu nồi cơm phải “tập trung chuyên môn” bằng cả một tình yêu thương dành cho chồng, cho con, cho cháu. Đôi khi còn có cả những giọt nước mắt do khói từ bếp củi làm cay mắt. Nhìn những chén cơm trắng tinh bốc khói dọn lên mâm có thể biết được mức độ khéo tay của người nấu. Có gia đình còn xem chuyện cơm nước là một tiêu chuẩn để chọn con dâu nữa.
Người Việt mình dù ăn món ngon cỡ nào cũng không thể quên được cơm, chỉ cần không ăn cơm 3 ngày là cảm thấy thèm cơm dễ sợ. Không biết cây lúa đã có từ khi nào và ai là người đầu tiên biết giã hạt lúa ra hạt gạo để nấu thành cơm, rồi cơm trở thành thức ăn chính không thể thiếu được trong mỗi gia đình Việt Nam cho đến ngày nay. Thật biết ơn tổ tiên từ ngàn xưa đã tìm ra cây lúa và hạt gạo. Lúa khi đến tuổi dậy thì ngậm đồng đồng ứa ra sữa, còn nước cơm như một thứ sữa kết tinh cả một phần đời của cây lúa, có thể nuôi sống một em bé sơ sinh thiếu bầu sữa mẹ.
Hồi đó chỉ là một chén nước cơm chứ đâu cao sang như hộp sữa tươi bây giờ, vậy mà mỗi trưa đi học về được ngoại để dành cho một chén nước cơm, có cái màng mỏng kết lại trên mặt chén, hớt cái màng mỏng đó cho vào miệng nghe béo béo bùi bùi, rồi từ từ húp hết chén nước cơm còn ấm, tôi cảm thấy không có một thức uống nào ngon như vậy.
Sau này cơm được nấu bằng nồi cơm điện nên không còn chắt nước cơm nữa. Trong siêu thị Đại Hàn bây giờ có bán chai sữa gạo cũng khá giống mùi của nước cơm. Nhưng đối với tôi, chén nước cơm pha đường ngày đó của ngoại luôn thơm ngon hơn bất kỳ thứ gì. Bởi vì nó còn được chắt trong đó tình yêu của ngoại đã nuôi lớn tuổi thơ tôi.
Gặp lành
Năm 2020 tôi có đăng một bài tựa đề là “Thầy Tôi” trên group “Phước Tuy quê hương tôi” viết về người thầy dạy môn Pháp Văn của mình: thầy Trần Ba. Tôi viết về thầy bởi vì vào năm 1977, có một câu chuyện buồn mà thầy là nhân vật chính, nói đúng hơn thầy là một nạn nhân của sự thù hận của bên thắng dành cho bên thua. Một lý do khác, tôi mong qua bài viết, hy vọng có ai đó sẽ đọc được và cho tôi biết tin tức của thầy.
Nhắc lại câu chuyện buồn này một chút, vào một ngày của năm 1977, cả trường đang trong giờ học, có 2 người bộ đội hay công an gì đó vào thẳng văn phòng giáo viên bắt thầy Trần Ba và giải thầy từ văn phòng ra sân trường trước sự chứng kiến của nhiều học trò và thầy cô. Hôm đó tôi ngồi cạnh cửa sổ nên đã nhìn thấy rõ mọi việc, thầy còn dắt theo chiếc xe đạp cũ không có cạc te đi giữa 2 tay công an. Lúc đó, tôi đã lờ mờ đoán được thầy bị bắt vì cái tội gọi là “phản động” hay “xê i a” gì đó. Những năm đầu sau 75, người dân bị bắt không có gì lạ, có thể bị bắt vì một lý do vu vơ nào đó, không cần trác toà hay công tố. Công an bao luôn công việc của ngành tư pháp. Trong chuyện này, chỉ có một điều làm tôi ưu tư mãi là tại sao người ta không bắt thầy ở một địa điểm nào khác, chẳng hạn như bên ngoài trường hoặc tại nhà riêng, mà lại bắt một người giáo sư trung học trước mặt các học trò của mình trong sân trường? Không lẽ người ra lịnh bắt thầy chưa bao giờ đi học và chưa bao giờ có thầy cô? Vô lý, không học sao làm sếp được! Chỉ còn một lý giải nghe có lý: lòng thù hận.

Hình các giáo sư trường trung học Đất Đỏ, Phước Tuy năm 1968. Thầy Trần Ba đứng thứ 3 từ trái sang
Trước khi đăng bài “Thầy Tôi” lên group Phước Tuy, tôi chưa có tin tức gì của thầy Trần Ba kể từ ngày thầy ra tù năm 1982, sau 5 năm bị giam cầm ở Biên Hoà. Ngày thầy ra tù, tôi và 2 người bạn có đến thăm thầy nhưng không dám nói chuyện nhiều vì …sợ công an theo dõi. Sau lần gặp đó, tôi không còn cơ hội gặp thầy lần nào nữa vì ai cũng phải lo đi tìm kế sinh nhai. Một thời gian sau, nhờ bài đăng trên group Phước Tuy, tôi nhận được tin nhắn của một người thuộc thế hệ đàn anh cùng quê Phước Tuy, anh nhắn cho tôi số phone và nơi ở của thầy thuộc tiểu bang Oregon bờ tây nước Mỹ. Mừng quá, tôi vội vàng gọi ngay cho thầy. Thật may mắn, người bắt máy hôm đó chính là thầy. Thầy nhớ ra tôi ngay, vì lúc đi học thầy trò chúng tôi thường đi lao động, ăn cơm và nói chuyện với nhau. Hồi đó thầy hay gọi tôi bằng tiếng “con” nghe rất thương, bây giờ thầy cũng gọi tôi như vậy.
Hôm đó thầy trò chúng tôi nói chuyện với nhau hơn 2 tiếng đồng hồ. Thầy kể lúc bị bắt, thầy hoàn toàn không biết vì lý do gì, phạm tội gì. Nhưng sau này thầy biết có một người đã báo cho công an là thầy làm “xê i a” cho đế quốc Mỹ. Họ đã điều tra thầy suốt 5 năm trời mà không tìm ra một bằng chứng nào để kết tội, cuối cùng đành phải thả thầy ra. Sau khi ra tù, dù vô tội, thầy vẫn không được đi dạy lại nên phải làm nghề “buôn chuyến” để kiếm sống. Các con của thầy vì mang “lý lịch xấu” do có cha “phản động” ở tù nên cũng không thể học hành và xin việc làm được. Cuộc sống của gia đình thầy thời gian đó rất khó khăn. Trong một lần đi buôn chuyến, thầy bị một người học trò cũ ở Đất Đỏ làm cán bộ thuế vụ tịch thu hết hàng hoá. Hết vốn, thầy đành phải trở về Đất Đỏ làm rẫy. May mắn thay, đến năm 1997 thầy và vợ thầy được sang Mỹ theo diện di dân do người em vợ của thầy bảo lãnh, nhưng các con của thầy vẫn còn ở lại.
Thầy trò thường nhắc lại kỷ niệm cùng đi lao động ngày xưa, dù thiếu ăn nhưng ai cũng phải ráng cuốc nhằm đạt thành tích “lao động tiên tiến” để lấy điểm. Thời đó lao động là vinh quang, chỉ có đào bới xới cuốc đổ mồ hôi hột mới được gọi là “lao động”, còn những nghề khác như y tá, bác sĩ, dạy học…đều là “phi lao động”.
Tết vừa rồi, thầy cho tôi biết các con của thầy đã được sang Mỹ, cả gia đình đoàn tụ và có cuộc sống ổn định. Thầy còn nói cho tôi biết tên của tay công an huyện đã đến trường bắt thầy ngày hôm đó. Tôi nghe xong giựt mình. Thì ra tay công an đó có bà con họ hàng với bên ngoại của tôi, tôi gọi ông ta là cậu. Sau khi bắt thầy vào tù chỉ một thời gian ngắn, tay công an này đã bị tai nạn xe mất mà chưa kịp hưởng thành quả cách mạng của mình.
Cứ mỗi lần nói chuyện phone với thầy, câu cuối cùng trước khi từ giã mà thầy hay nói với tôi là: “Ở hiền gặp lành nhen con”. Tôi nghĩ thầy đã trải qua một khoảng đời tựa như một bi kịch, nhưng cuối cùng lại là một kết thúc có hậu: GẶP LÀNH.
QN










