Đoạn Đường Chiến Binh

Hồi ký của Hải quân Trung úy Nguyễn Nhật Cường về những ngày cuối tháng 4 ngập bi thảm. Cũng nói lên khiếm khuyết của Bộ Tổng Tham Mưu VNCH dưới quyền Đại tướng Cao Văn Viên: Trong suốt cuộc chiến đã sử dụng Hải quân như phương tiện tuần tra và vận chuyển, không hề có chiến lược nào khác như thu hút chủ lực Bắc-Việt ra sát duyên hải rồi dùng hải pháo hủy diệt hoặc đổ bộ sau lưng Bắc quân đang tiến xuống Huế… Bộ Tổng Tham Mưu VNCH mang cùng căn bệnh của Bộ Tư Lệnh Pháp đã không bao giờ hội ý các tướng lĩnh Không quân hay các Đề đốc Hải quân khi soạn thảo kế hoạch mà chỉ trao cho họ phần vụ thi hành các quyết định từ phía Bộ binh. Là một trong những nguyên nhân khiến Hải quân VNCH không giữ vai trò quan trọng trong nội chiến Nam-Bắc.

[Trần Vũ]

Hải quân Trung úy Nguyễn Nhật Cường  |  Trần Văn Giang ghi

Sự hoảng hốt của những người trên bờ biển, cả lính lẫn dân, từ hàng trăm lúc này có thể lên đến cả ngàn người, dường như đã lên dần đến cực điểm. Trong những tiếng nổ của kho đạn lẫn trái pháo càng lúc càng dữ dội cùng tiếng gào của mẹ lạc con, vợ mất chồng, tôi bỗng nghe vài tiếng súng thật gần. Anh thủy thủ giữ máy báo cáo là sân mũi cho biết có người ném lựu đạn lên tàu. Chưa kịp hỏi lại, thì một tiếng nổ chát chúa dội lên chỉ cách vài thước. Thấy cảm giác là lạ, tôi đưa tay lên vuốt mặt, giật mình nhìn lại bàn tay đầy mồ hôi và nước biển giờ đã pha lẫn màu máu đỏ. Máu của những nạn nhân quả lựu đạn vừa nổ giữa đám người đang chen lấn để vào bên trong. Ngước mắt nhìn, thành tàu đã dính bầy nhầy những mảnh da thịt tả tơi, những ngón tay lẫn ngón chân rời rã. Tiếng kêu gào vang dội, bị át dần bởi tiếng sóng lẫn những tiếng nổ ầm ì. Hình như một mảnh đạn nào đã đi sát qua trán tôi và để lại một vết xước rịn máu, rát cả một bên mặt khi chạm phải những giọt nước biển đang bắn lên tung tóe.

Không tìm được người thủy thủ cầm máy, tôi rời cửa ram chạy trở ngược lên sân mũi. Leo lên pháo tháp, tôi giật vội chiếc mũ truyền tin trên đầu anh liên lạc viên để báo cáo thẳng với Hạm trưởng trên đài chỉ huy về tình hình hỗn loạn, không còn kiểm soát được. Với khoảng cách xa bờ và cơn biển động, sự hiện diện của tàu tại vị trí này chỉ gây thêm nhiều thương vong, mà số người lên được không có là bao, tôi đề nghị ông tìm một giải pháp khác. Đang băn khoăn chờ đợi câu trả lời, thì đầu tàu bỗng bật tung lên cao theo một cơn sóng lớn. Không chịu nổi những đợt sóng gió hung hãn, liên tục quật vào hai bên chiến hạm, sợi dây cáp ny lông to bằng cổ tay cột vào bờ để giữ đầu tàu, đã bị giật đứt. Với sức đàn hồi khủng khiếp, khúc dây bật lại, uốn éo phóng ngược trở lên tàu như một con xà vương vĩ đại, thân dây chạm vào sàn sắt của tàu, nẹt thành những tia lửa ngoằn ngoèo như ánh chớp trong đêm mưa.

Tôi bỗng nghe một tiếng nổ thật to và thật gần, từ ngay trong chiếc mũ liên lạc đang đội rồi mắt tối sầm lại, không còn biết gì nữa. Mở choàng mắt ra, tôi ngạc nhiên thấy mình đang nằm trên sàn tàu ướt lạnh, cổ và vai đau như gãy, chiếc mũ liên lạc lủng lẳng, đu đưa theo sợi dây đen lòng thòng dính vào ổ cắm của ụ súng cao hơn bốn thước phía trên. Một hạ sĩ quan sân mũi đang đỡ tôi đứng dậy. Anh nói khúc dây bật lại đã đánh rớt một nhân viên xuống biển, đầu dây quật trúng, hất tôi từ pháo tháp văng xuống sàn tàu.

Hạm Trưởng đã ra lệnh cho hai máy lùi, đóng cửa và kéo neo sau để rút tàu ra. Tôi ôm đầu trong cái ê ẩm còn sót lại, bùi ngùi nhìn sự tuyệt vọng của đám người đang tận lực cố lội đến chiến hạm. Tàu lạnh lùng lùi dần trong những tiếng la hét, cầu cứu, nguyền rủa. Chỉ còn một biện pháp cuối là cập cầu. Trong cơn biển động, chúng tôi hướng mũi qua phải, dập dềnh đi về phiá cầu tàu ở cánh trái BTL Sư Đoàn. Đám người trên bãi cũng bắt đầu chuyển hướng theo.

Tàu tiến đến cầu ở một góc 30 độ. Những trái độn bên tả hạm được thả xuống. Cách cầu khoảng chục thước, chúng tôi ném dây mũi và hai dây tả hạm đồng thời gọi loa yêu cầu những người lính đang đứng chật trên cầu để tròng đầu dây vào những cọc sắt cột tàu, trong lúc anh em sân mũi chuẩn bị để thả hạm kiều, một chiếc cầu thang sắt với khoảng hơn một thước bề ngang. Trước sự ngạc nhiên của chúng tôi, người lính nắm được đầu dây thay vì móc vào cọc sắt cột tàu thì đã phóng xuống, đu mình theo dây để cố leo lên tàu trước một mình. Hai người lính với hai đầu dây khác cũng phóng theo. Họ đong đưa trên dây, đạp chân vào thành tàu ngoi ngóp leo lên. Sóng nhồi, tả hạm của tàu đập từng hồi vào thành cầu. Những trái độn nhỏ bé không đủ làm giảm sức va chạm và chẳng mấy phút sau những người lính vội vã này đã tuột tay, rơi thẳng xuống biển. Tôi không nhìn theo để khỏi phải chứng kiến cảnh tượng các thân xác người đang bị thành tàu ép nghiến vào những cây gỗ chân cầu theo từng cơn sóng đẩy đưa.

Xem thêm:   Nhạc công đám hiếu

Cuối cùng chúng tôi cũng cột được một dây mũi và một dây lái. Biển đang trong cơn nước lớn, thành tàu cao hơn mặt cầu quá nhiều. Chiếc hạm kiều (cầu thang) thả xuống vừa chạm đất thì đám người đã ồ ạt, xô đẩy, giành nhau để lên tàu. Đầu hạm kiều phía trên chưa kịp cột lại. Một cơn sóng lớn đẩy tàu nhích ra ngoài, chiếc hạm kiều chỉ mới được đặt ghé hai đầu đã bật ra, rơi ùm xuống biển, mang theo một đám người trên đó. Chúng tôi vội vàng đẩy chiếc hạm kiều thứ hai nhỏ hơn bằng gỗ xuống thay. Với sự chen lấn hỗn loạn, dưới trọng lượng của số người cố đạp lên nhau để leo lên hạm kiều, chỉ vài phút sau chiếc cầu thang gỗ cũng lại chung số phận hẩm hiu, lật theo xuống biển. Chỉ còn lại một chiếc hạm kiều nhỏ xíu cuối cùng chúng tôi cũng phải mang ra nốt. Hạm kiều quá nhỏ, bề ngang chỉ đủ cho từng người một, lại gây thêm náo loạn trong đám đông bên dưới, đang chờ đợi trong cái điên cuồng của những con thú bị dồn đến chân tường. Chúng tôi phải tung hết những tấm lưới đổ bộ đan hình mắt cá xuống thành tả hạm để cho họ leo lên. Lưới đổ bộ dành cho những người lính đã được huấn luyện từ quân trường, chỉ để leo xuống đã là một việc khó khăn. Nhưng trong lúc này, dường như sự sợ hãi đã làm mọi người điên dại, họ bất kể sự nguy hiểm trước mắt, xô đẩy nhau để bám víu lấy bất cứ một cơ hội mong manh nào có thể đem họ ra khỏi vùng địa ngục kinh hoàng.

Những tiếng la hét thất thanh ở phía sau lái làm tôi chạy vội xuống. Một cảnh tượng khiến tôi lạnh người, sửng sốt. Trên sợi dây cáp ny-lông đong đưa, nối từ sau lái xuống cầu tàu, một người con gái với hai chân quặp vào dây, mặt ngửa lên trời, hai tay cô đang lần từng gang, bò dần về phía chiến hạm. Sau lưng là một đứa bé nhỏ như trẻ sơ sinh, được quấn chặt vào người cô bằng một tấm khăn trắng trải giường. Đứa bé không động đậy, không biết là còn sống hay đã chết. Cô gái chỉ còn cách tàu chừng ba thước, nhưng phần cuối dây lại là khoảng cách có độ dốc nhiều nhất, cô ngưng lại thở hổn hển như đã kiệt sức. Một nhân viên sau lái, nối tay với một nhân viên khác, chân đạp vào thành tàu chồm hẳn ra phía ngoài chờ đợi. Những nhân viên chung quanh, đầy vẻ khẩn trương, hoà giọng hô từng hồi khuyến khích: “Ráng lên … Tới rồi… Ráng lên !!” Như đáp lại sự khích lệ, cô gái trườn lên, vừa đúng lúc người thủy thủ chờ đợi chồm tới, chụp được cái cổ tay gầy guộc. Tôi thở ra một hơi thật dài như không biết đã nín thở từ lúc nào, rồi chạy vội về sân mũi.

Vừa đúng lúc để nghe lệnh Hạm Trưởng qua anh thủy thủ giữ máy cho rút hạm kiều và tháo dây rời bến, nhường chỗ cho một chiếc hải vận hạm (loại 400 nhỏ hơn) vào thay thế. Trời đã tờ mờ sáng. Trong ánh sáng nhợt nhạt, những nét đau đớn, tuyệt vọng trên khuôn mặt đám người hốt hoảng còn lại trên cầu tàu hiện ra thật gần. Ngôn ngữ không còn tác dụng gì với những người đang chìm sâu trong nỗi kinh hoàng, chúng tôi phải giành giật để kéo lại chiếc hạm kiều duy nhất. Nhân viên sân mũi, đã chặt dây cột tàu bằng búa phòng tai để chiến hạm có thể tách bến. HQ505 chỉ đón được một số nhỏ vì sự hỗn loạn của cuộc di tản thiếu tổ chức và hoàn toàn vô trật tự. Quanh tôi, những người vừa leo lên được đang nằm ngồi ngả nghiêng đầy boong tàu. Anh em thủy thủ đoàn, những gương mặt hốc hác sau một đêm dài không ngừng nghỉ, tiếp tục làm việc, xếp đặt chỗ ở tạm và săn sóc những người bị thương. Trong cái đau nhức và mỏi mệt, với thần kinh căng thẳng của gần suốt 24 tiếng liên tục, tôi vào phòng ngủ thiếp đi lúc nào không biết, cho đến khi Cần đánh thức tôi dậy đi ca. Tàu trực chỉ Đà Nẵng theo lệnh của BTL Vùng I Duyên Hải….

Đà Nẵng

Qua khỏi Cù lao Chàm, tàu đổi hướng tiến về phía cửa Đà Nẵng. Chiến hạm bắt đầu đong đưa như chiếc võng. Những làn sóng ngang, đẩy dài, nhẹ nhàng, êm ái như ru ngủ, nhưng cũng chính là những cơn sóng hành hạ các tay đi biển thê thảm nhất (như những cô thiếu nữ mang dáng vẻ rụt rè – dễ làm bé cái nhầm – của miền Trung!) Thêm hai lần đổi cấp, tàu đã nằm trên trục thẳng vào bãi ủi Trịnh Minh Thế, ngang trường trung học Sao Mai.

Xem thêm:   “Tháng Tư, cả một đời người trước...”

Đà Nẵng với HQ505 có thật nhiều kỷ niệm. Nhiệm sở ủi bãi, từ pháo tháp sân mũi, những khung cảnh thân thương của dãy phố chợ quen thuộc chạy dần qua hữu hạm. Bến đò vẫn tấp nập với những chiếc tam bản, nước ngập gần đến mí, đưa đón khách sang sông. Với những chiến hạm lớn như 505, vào cửa Đà Nẵng tuy không khó, nhưng cần phải có một chút kinh nghiệm và chính xác. Ngang bến đò, gần giữa dòng sông là một cồn cát lớn, nằm chìm dưới mặt nước. Để tránh mắc cạn, tàu phải đi sát vào bến chợ, chỗ mà những con đò nhỏ nườm nượp ra vào. HQ505 đã có dịp nằm phơi nắng trên cồn cát một lần trước đó vì quá cẩn thận, tránh bến đò hơi xa.

Tàu cập bến, những người di tản đã xuống. Sau khi chia nhiệm sở cho nhân viên, tôi chở Tăng, cậu em trai, ra thăm ông anh lớn, con nuôi bố mẹ tôi, ở gần bên chợ Mới. Bước vào nhà, tôi đã thấy có điều bất thường. Ông anh đầy vẻ khẩn thiết xin tôi đưa gia đình lên tàu để vào Sài Gòn trước. Ông ở trong binh chủng Quân Nhu với cậu con lớn là “pilot” trực thăng của Không Quân Vùng Một đóng tại Đà Nẵng quyết định ở lại đến giờ chót! Tôi chưa kịp có dịp cho cậu em thưởng thức món bún bò giò heo độc đáo của Đà Nẵng, thì đã phải vội vàng thu xếp để đưa cả bảy người trong gia đình anh tôi về chiến hạm.

Trở lại bến, tôi ngạc nhiên trước cảnh huyên náo, đông đúc khác thường của căn cứ chuyển vận nơi tàu đang đậu vào chiều hôm ấy. Từng nhóm, từng gia đình đứng ngồi rải rác khắp nơi, hành trang bên mình như chuẩn bị ra đi. Cửa chiến hạm đóng kín, hạm kiều để lên xuống đã được cất đi tự lúc nào. Mở hé cánh cửa đổ bộ cho tôi và gia đình ông anh lên tàu, nhân viên trực phải vất vả ngăn cản những người khác trên bến đang tấn lên chen lấn, muốn uà vào theo. Bước vào hành lang “carré” sĩ quan tôi ngạc nhiên khi thấy Symi và Duyên, em gái người bạn HQ. Duyên nước mắt long lanh cho biết tình hình bên ngoài rất nghiêm trọng, mọi người đang tìm chỗ đi lánh nạn, hai cô vừa được Cần quăng dây xuống bến kéo lên. Tôi tìm vài câu an ủi rồi đi dọn phòng cho gia đình ông anh ở tạm.

Tàu phải rời bến ngay trong đêm để di chuyển ra cửa Đà Nẵng, trước BTL/HQ Vùng Một Duyên Hải chờ lệnh. Chưa có lệnh cho di tản và tàu còn nguyên 2,000 tấn đạn từ lúc ra đi, chúng tôi chỉ có thể cho một số quân nhân, người quen và thân nhân của các anh em cơ hữu lên tàu, trước khi rời bến Trịnh Minh Thế, trong sự ngỡ ngàng, thất vọng của những người đợi chờ trên bến.

Ra đến cửa Đà Nẵng thì trời đã sáng, tàu thả trôi chờ lệnh. Một chiếc ghe đầy ắp dân cặp vào bên hữu hạm và có ai vừa quăng chiếc cầu thang dây xuống cho người trên ghe leo lên. Lập tức cả hàng chục chiếc ghe khác ùn ùn kéo tới. Hai máy tiến một, HQ505 chậm chạp dời chỗ để tránh các ghe dân, càng lúc càng xông đến nhiều hơn, táo bạo hơn. Từ đài chỉ huy, đang bận rộn quan sát các tàu bè qua lại tới tấp trước mũi, tôi bỗng nghe tiếng kêu ơi ới: “Cường ơi, thằng em mày kẹt lại dưới ghe đàng sau kìa!” Bố khỉ, thì ra thằng em tôi đã leo xuống “làm công tác xã hội” giúp người dưới ghe từ lúc nào. Tàu chạy, Tăng còn kẹt lại, may mà Cần trông thấy. Tôi phải ra lệnh ngưng máy để chờ cho chiếc ghe cặp trở lại và cho thằng em tôi leo lên. Đang sỉ vả cậu em ẩu tả thì một loạt súng đại liên chát chúa từ phía cánh trái của phòng lái khiến tôi chồm vội ra nhìn xuống. Cần đang đứng bên cạnh khẩu 30 ly nghi ngút khói và phía dưới các chiếc ghe bạo dạn đang dạt ra ngoài sau loạt đạn cảnh cáo. Chiều xuống, chúng tôi được lệnh về Cam Ranh.

Cam Ranh

Tại bến quân vận Cam Ranh, bên cạnh HQ505 còn thêm một dương vận hạm và một hải vận hạm mà tôi không nhớ số. Đám bạn trên chiếc hải vận hạm cho biết là cả Tướng Trưởng, Tư Lệnh Vùng Một, và Tướng Lân, Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến, cũng có mặt trên đó. Từ lúc ấy tôi bắt đầu suy tư nhiều về tình hình cuộc chiến và số phận chung của miền Nam. Càng ưu tư hơn khi nhớ lại mẩu chuyện mà một người Thiếu Úy trẻ TQLC lên tàu ở Đà Nẵng đã kể lại rằng đơn vị anh đang hành quân thì có lệnh rút lui, từ đó VC chỉ bám theo bắn sẻ và pháo kích, gây thật nhiều tổn thất. Anh đã thất lạc đơn vị, lên tàu chỉ với đôi chân trần và bộ quân phục rách nát dính trên người khi đến hỏi xin tôi đôi dép đi tạm. Thêm vào đó, Hiền, cậu con lớn ông anh tôi ở Đà Nẵng, trước khi gửi vợ con lên tàu đã thủ thỉ rằng hắn chưa đi được vì vừa bị chỉ định xử lý thường vụ trông coi phi trường Đà Nẵng. Thêm một dấu hỏi thật lớn với một phi công trực thăng ở cấp bậc Đại Úy. Chuyện gì đã, đang và sắp xảy ra??!!

Xem thêm:   Xe buýt Sài Gòn

Tưởng được về Sài Gòn nhưng chúng tôi lại có chỉ thị đem số đạn dược trở ra Thuận An, Huế. Trước tin đó, chị dâu tôi và đám cháu quyết định xuống Cam Ranh để tìm đường bộ về Sài Gòn trước. Một quyết định mà tôi đã đồng ý và ân hận thật nhiều chỉ một ngày sau đó, ngày mà chúng tôi phải rút khỏi bãi để ra thả neo ở bên ngoài vì tình hình Cam Ranh bỗng trở nên rối loạn. Quân trường HQ Cam Ranh có lệnh di tản trong đêm hôm trước. Từng đoàn dân chúng lại lũ lượt kéo nhau ra bãi biển. Không còn chiến hạm HQ nào trên bến, họ tìm cách để ra những chiếc xà lan trần trụi cột ở những chiếc phao nổi bên ngoài với hy vọng là sẽ được những chiếc tàu kéo của quân vận lôi đi. Trên tàu đã gần hết thức ăn tươi, tôi theo mấy chú em ẩm thực vào bờ đi chợ bằng chiếc tàu đổ bộ LCVP nhỏ. Dặn mấy chú ẩm thực cố đi thật nhanh, nếu không tình hình rối loạn có thể sẽ không cho phép chúng tôi đón họ lên trở lại. Tôi chờ trên chiếc LCVP với cái hy vọng mong manh và bất thành là được thấy gia đình chị dâu tôi trở lại bến. Nửa tiếng sau chúng tôi rời bãi sau khi khổ sở từ chối những lời nài nỉ khẩn khoản xin theo của những người trên bến dù đã hết sức giải thích rằng chúng tôi sẽ trở ra vùng địa đầu khói lửa, thay vì xuôi xuống phía Nam như họ nghĩ.

Trên đường trở lại chiến hạm, tôi ngạc nhiên nhìn thấy vài con cá mập lội lập lờ gần bãi một cách khác thường, có phải là chúng đã đánh hơi thấy mùi máu người đâu đây hay chăng?! HQ505 trở đầu ra cửa Cam Ranh, tiếp tục chuyến công tác ngược về phía bắc.

Phan Thiết

Hai ngày sau, đang trên hải trình về hướng Thuận An, với Đà Nẵng nằm xa bên tả hạm, chúng tôi lại được gọi trở ngược về Phan Thiết. Lý do: Có tin máy bay Việt Cộng từ hướng Hòn Cọp đã bay vào đột kích? Trở về ngang Cù lao Chàm, Hạm trưởng cho lệnh thực tập tác xạ, bắn vào những hòn đá nhỏ xa bên ngoài cù lao. Hơn hai năm đi biển trên LST, mà có lẽ kể cả từ lúc lãnh tàu, lần đầu tiên những khẩu đại bác 40 ly được sử dụng đến. Chả trách mà tài thiện xạ của chúng tôi đã rủ nhau đi chơi chỗ nào mất biệt!

Đến bên ngoài Phan Thiết, HQ505 thả trôi vài hải lý cách bờ biển. Cuộc điện đàm với giới chức liên hệ trên bờ về việc đổ đạn không có câu trả lời dứt khoát. Hạm trưởng quyết định vào tận nơi thảo luận. Tôi và ba nhân viên nữa tháp tùng ông, xuống LCVP rời chiến hạm. Hơn nửa giờ luồn lỏi theo con sông nhỏ, chúng tôi vào tận trung tâm thành phố và cột tàu ở chân cầu đối diện Bộ Chỉ Huy Tỉnh. Bên trong chúng tôi được tiếp bởi một ông Thiếu Tá bộ binh, ông cho biết là Việt Cộng  đã xâm nhập vào trong thành phố, số đạn nếu đổ xuống có thể chỉ để lại cho Việt Cộng dùng mà thôi. Với tin này, Hạm Tưởng Nhượng và tôi rời BCH trở về nơi ba nhân viên chiến hạm đang chờ đợi. Ngần ngừ trước khi leo vào LCVP, cả nhóm đang thèm được một tô mì ở quán chợ ngay bên cạnh, nhưng trong tiếng súng mỗi lúc càng nhiều và rõ hơn chúng tôi đành vuốt bụng xuống LCVP trở về chiến hạm.

Tuy Hoà

Không xuống đạn ở Phan Thiết, chúng tôi có chỉ thị đưa vào Tuy Hòa. Một quyết định quá muộn màng. Từ xa chúng tôi đã quan sát được phi trường Tuy Hoà vật vã dưới trận mưa pháo kích. Những trái đạn rót ra tận biển, tuy thưa thớt nhưng đủ đe dọa để giữ chiến hạm nằm lại ngoài tầm tác xạ, với 2,000 tấn đạn chở trên tàu chỉ cần lãnh một trái pháo, HQ505 sẽ nổ tung thành những mảnh vụn và biến mất không còn một dấu vết nào. Công điện đến, chúng tôi được gọi nhập chung với số chiến hạm có mặt trong vùng để cùng tiến vào Cà Ná, Phan Rang.

 (còn tiếp)