“Mời người lên xe về miền quá khứ
Mời người đem theo toàn vẹn thương yêu…”
(Trích trong bài Nghìn Trùng Xa Cách của Phạm Duy)
Hãy để tôi cùng người ôn lại những chuyến đò, những chuyến xe, phương tiện di chuyển một thời tại Việt Nam.
Thuở xa xưa, ông bà ta phần nhiều là đi bộ. Cố gánh Mẹ và mấy cậu tôi từ nhà ở Long Trì về cầu Đình ăn giỗ. Bà Ngoại tôi hay gánh cá do ông đặt thời, ra chợ Tầm Vu bán. Thời xưa, dù chiến tranh nhưng sao tôm cá nhiều vô số kể. Mẹ tôi là cô giáo, ra trường năm 1972, vẫn hay đi bộ từ Long Trì về tận Phước Tân Hưng. dạy học trong tà áo dài thướt tha với đôi guốc vông. Dì Tư cũng đi bộ từ ông Văn, sau khi xuống xe đò ở cây số 6 hướng Mỹ Tho về. Có cô hàng xóm kia sau này vẫn hay nhắc “Hồi đó tui thấy hai cô S. và Tr. mặc áo dài, che dù, đi dạy về ngang, tui thích và ngưỡng mộ lắm!”
Ngoài ra, tôi được biết đò dọc, đò ngang, đò xuôi là những tuyến đường thuỷ bằng ghe xuồng mà nhiều thế hệ trước dùng để đi lại. Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng có bài Đò Dọc dựa trên tiểu thuyết cùng tên của Bình Nguyên Lộc:
“Hò lơ, ho lờ!
Đò dọc đò ngang
Trôi trên con sông tình
Sông tình ngược xuôi quen nhấp nhô
Trôi theo con sóng yêu
Đò cắm bờ này thương bến kia thấy đời quạnh hiu…”

Đò ngang với chèo đôi. (nguồn: Google)
“Đò ơi, đò…” là tiếng gọi đò ngang với chèo đôi (hai cây dầm ở hai bên) quen thuộc của tuổi thơ tôi, từ bên kia bờ sông Đức Tân. Cứ mỗi buổi sáng sớm tinh sương, trước hừng đông, bà con đi đò ngang qua bên bờ này của sông Vàm Cỏ Tây để đi chợ, buôn bán, hay học trò sang sông đi học ở trường Thanh Phú Long. trong bộ đồng phục quần xanh, áo trắng tinh. Sau đó, có đò máy chạy bằng dầu nghe tạch tạch vang vọng trên sông. Gần đây, tôi có dịp thăm lại, đò đã bị thay bằng phà.
Thủa xưa, thời Bình Nguyên Lộc, trong truyện ngắn Rừng Mắm, ông miêu tả ba đời nhà thằng Cộc vì nghèo khổ mà sống lưu lạc, trôi nổi trên ghe ở miền rừng đước vùng U Minh. Hồi đó, quê tôi cũng có nhiều ghe y như thế, lâu lâu họ ghé bờ đi chợ. Còn thì cả gia đình sống trên ghe quanh năm suốt tháng. Trẻ em thì không được đi học bao giờ! Tội lắm!
Ông bà Út xóm tôi sống bằng nghề buôn bán đồ gỗ bằng ghe. Họ chèo lên tận Lái Thiêu, hay Cát Lái (những địa danh rất quen thuộc với tuổi thơ tôi), lấy hàng rồi chở tới những nơi khác bán kiếm lời. Còn nhớ ông Nội của H. (em họ tôi) đi đò dọc từ Phú Mỹ, Tiền Giang, qua thăm cháu ở Long An. Ông chở theo trái cây, cây nhà lá vườn cho cháu và biếu chị sui. Có lần, ông mang theo cả buồng chuối còn xanh. Nội tôi hay “cầm” (tiếng địa phương quê tôi có nghĩa là mời ở lại) ông ở chơi thêm vài bữa trước khi chèo ghe về lại Phú Mỹ.
Phương tiện di chuyển xưa khá phổ biến khác là xe ngựa. Theo Google, “xe ngựa, cụ thể là xe thổ mộ, xuất hiện ở Việt Nam vào giữa thế kỷ 19. Xe thổ mộ là một loại xe ngựa do người dân miền Nam cải tiến từ xe song mã của Pháp, chịu ảnh hưởng từ xe ngựa của Trung Quốc. Xe ngựa, trong đó có xe thổ mộ, được sử dụng để vận chuyển người và hàng hóa.”
Vào thập niên 80, tôi được đi xe ngựa của ông ba Hưởng ở cầu Eo Đéc. Còn nhớ chiếc xe ngựa mui trần, chở được chừng 6-8 người khách ngồi hai hàng ghế hai bên. Ngựa được buộc vào hai gọng xe dài phía trước, mắt bị bịt kín hai bên, chỉ thấy đằng trước. Ở dưới có một cái bị đựng phân. Bác tài ngồi ở giữa, cầm roi và dây cương điều khiển ngựa. Bà con đi chợ về có những giỏ bàng hay thúng, gióng, bội, được để hoặc máng vào hai bên thành xe. Móng sắt của ngựa va xuống đường kêu lộp cộp. Mùi ngựa xông lên mũi nồng nặc và ôi thôi, nhớ đời!
Xe đạp từng là phương tiện di chuyển phổ biến khác một thời tại Việt Nam. Theo Google, “xe đạp xuất hiện ở Việt Nam vào cuối thế kỷ 19. Chiếc xe đạp đầu tiên trên thế giới do Nam tước người Đức, Baron von Drais, phát minh vào năm 1817. Đến những năm đầu thế kỷ 20, xe đạp bắt đầu phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt là trong giới công chức và những người có điều kiện.”

Xe Velosolex và xe đạp đòn dông
Dấu ấn của xe đạp vẫn còn lưu lại trên người tôi suốt đời trên gót chưn phải qua cái thẹo. Số là lúc 3, 4 tuổi, Dượng Tư chở tôi sau ba-ga, chưn tôi kẹt vô căm xe hồi nào không hay. Cũng may, Dượng kịp thời phát giác, nếu trễ một chút có lẽ đã bị dị tật suốt đời. Hồi mới biết chạy xe đạp, tôi tập bằng xe mini của cô Út và Mẹ. Lần nọ, tôi xí xa xí xọn sao lại chạy xe đòn dông của Ba. Tôi phải để một chưn bên kia, dưới đòn dông rồi cân bằng. Khi chạy ngang xóm chợ, tôi đụng phải con bé đúng ngay lúc có bạn S. Hùng, học chung lớp, ngồi ngay đó vì nhà bạn có tiệm chạp phô, tôi xấu hổ dễ sợ! Lần khác, vào lớp 5, khi đi học thi học sinh giỏi bên nhà cô A. Tuyết ở tận trong đồng xa, có hai bạn Nhi và T. Loan đi cùng. Lúc gần tới nhà cô, không may, tôi lọt tõm xuống ruộng, quần áo ướt như chuột lột và tanh mùi bùn non. Lần đó, tôi thấy rất xấu hổ với hai bạn Loan và Nhi!
Lên cấp 2, chúng tôi đạp xe đi học thêm Toán ở nhà thầy Tâm, được Thầy kể chuyện vui ơi là vui! Năm lớp 9, tôi học tại trường Dương Xuân Hội, lớp chuyên (môn văn của cô Luyện). Vào giờ trưa, tôi cùng hai bạn Diễm và Phúc đạp xe về Cống Đá, cũng là quê của bà Cố Nội, ăn cơm và nghỉ trưa. Xế trưa tan học, tôi cùng hai bạn Diễm, Phúc, đạp về đường chợ Ngã Tư. Có lúc, tôi cao hứng, lủi xe vô đống rơm bên đường, té “lăn cù đèo”; cảm giác ấy rất thích thú! Có ngày, tôi mang theo lon guigoz Mẹ bới cho, từ Tầm Vu đạp xe về Ngoại, độ nửa tiếng đồng hồ, ăn trưa, thăm Ngoại, xong quay lại học.
Hay nếu tôi đi đường Lộ Đất cùng bạn K. Thuý thì chúng tôi đạp xe giữa trưa nắng chang chang cùng với gió ngược. Gọi là Lộ Đất là vì lộ trải đất cùng đá đỏ mà không có tráng nhựa, có rất nhiều ổ gà nên bụi bay mịt mù. Nón lá chúng tôi đội căng no gió, bật ngược ra đằng sau làm chúng tôi đạp gần hộc xì dầu mà xe cứ nhích từng chút một. Gặp lúc đói bụng lả người và khát nước thì ôi thôi, màn đạp xe gió ngược này suốt đời khó quên!

Xe đò ( Nguồn: Nhạc Xưa)
Xe gắn máy xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 1950, ban đầu chủ yếu ở miền Nam. Vào những năm 80, 90, các loại xe tôi thường thấy là Vespa, Honda Dame, Honda 67, Cub 50, Honda Dream. Còn nhớ trước khi đi Mỹ, Cậu Chín về quê tiễn nhà tôi rồi cho tôi tập xe. Tôi mượn xe Cậu, tập chạy mấy vòng, từ nhà xuống chợ Ngã Tư, sau đó chưa bao giờ cầm lái lại.
Kế tới, xe lam có ở Việt Nam vào những thập niên 60-90, của hãng Ý Lambretta. Bến xe lam ở tại chợ Thâm Nhiên, tuyến đường lên thị xã Tân An, ghé ngang Kỳ Son. Có hai bà cháu nhà kia lên xe. Xe cập bến ở Tân An, hai bà cháu băng qua lộ Cần Đốt, đi bộ ngang qua trường mẫu giáo Vành Khuyên, tới nhà cô Tư.
Xe đò đi tuyến dài hơn, từ Ngã Tư đi Sài Gòn và Sài Gòn đi các tỉnh miền Tây. Mỗi lần được Nội, Út hay Mẹ dẫn lên “Sì Gòn”, tôi rất háo hức và nôn nóng. Lên xe ở chợ Ngã Tư, chúng tôi đi cùng với những lái buôn gà vịt. Xóm tôi có bà Năm C., thu mua gà vịt từ những người trong đồng mang ra bán lẻ, lên Sài Gòn bỏ mối cho vựa. Gà vịt được đựng trong những cái ky hay giỏ bàng; chúng thò cổ dài ra ngoài dưới băng ghế. Bà hay cho gà vịt ăn độn bằng bã đậu. Với nắm bã đậu trong tay, bà ngắt nhỏ ra, nhét vô mỏ từng con gà, con vịt, trong nhiều đợt, thành ra tới lúc giao cho mối buôn thì bầu diều gà, vịt đã no căng lên, cũng có nghĩa là cân nặng thêm một chút. Vịt rỉa hay gà mổ chưn khách nhồn nhột là chuyện thường tình. Trên mui xe đò còn chất đầy những thứ mà khách buôn mang theo hay xe cộ, được lơ xe ràng rịt lại rất khéo và chắc chắn.

Bến xe lam
Xe đò cập bến tại bến xe miền Tây, chúng tôi kêu xích lô vô nhà bà Sáu ở gần nhà thờ Chợ Quán, đường Trần Bình Trọng. Mỗi khi băng qua đường, tôi phải nắm tay chị Hồng, chị Mai, chị bé Tư vì một đứa trẻ quê như tôi không thể nào tự băng qua đường Sài Gòn được. Nắm tay chặt cứng mà tôi vẫn còn thấy sợ kia!
Xích lô cũng là một phương tiện di chuyển rất phổ biến trong nội thành và tại các thị xã, nơi có đường tráng nhựa. Các bác xích lô thật tài, chở 4, 4 bốn người mà đạp tỉnh bơ. Xe xích lô sau này đã được thay bằng taxi.
Bến Xe Miền Tây có rất nhiều trẻ em bán trà đá, rao đãi giọng ngọt ngào “Ai mua trà đá hong?…”, “Ai… nước mía hong?…” Có mấy em leo lên xe, đi một đỗi lâu mới nhảy xuống, vậy mà không té mới tài! Xe đò chạy ngang qua Bình Chánh, Gò Đen, về tới Bến Lức, ngừng cho khách xuống thì có nhiều người bán khóm rao “khóm đây; khóm ngọt như đường đây, ai ăn khóm hong?…..” Nhìn những bịch khóm vàng rượi và tô muối ớt đỏ au, khách trên xe không khỏi chảy nước miếng.

Xích lô, xe đạp, xe gắn máy trước Nhà Hát Sài Gòn xưa
Xe hơi thời xưa rất hiếm nhưng chợ Thâm Nhiên có ông Ba Tàu – Các Chú (tôi không biết tên thật, vì ông người Tàu nên bà con lối xóm gọi thế) có xe, ai kêu gì chở nấy. Có lần, Mẹ tôi kêu xe chở 5 giạ lúa Ngoại cho từ Long Trì về, ngang cầu Chợ Giữa (lúc ấy chưa xây lại; tôi vẫn còn nhớ cảm giác thót ruột gan khi đi ngang vì chỉ được lót bằng ván bản to) thì ván gãy, cả chiếc xe rớt tõm xuống sông. Cũng may, lúc đó có người thấy và cứu được ông. Riêng Mẹ tôi đã đi bộ qua trước, nếu không, có thể tôi đã trở thành côi cút vì Mẹ không biết bơi và ba còn đang ở trong tù cải tạo. Lúc đó, tôi đang chơi bên nhà bà Cô. Nghe kể lại, tôi hết hồn hô to “Mẹ con đi xe đó đó bà Cô”, làm cả nhà hồn vía lên mây, bà Cô thì sai anh Long Phi xuống coi sự tình. May thay! Phước đức ông bà để lại hay sao ấy chớ chưa chắc gì Mẹ tôi rớt xuống mà người ta cứu được! Xóm có ai bịnh hoạn cũng kêu xe ông Ba chở lên Tân An hay Chợ Rẫy. Người bịnh hay mất dọc đường trước khi kịp tới nhà thương.
Xưa, ông bà ta toàn đi bộ, đi đò chèo tay, đi xe đạp mà tốt cho sức khỏe. Nay, người ta đi xe đạp máy, phà, xe Honda, xe hơi… toàn là máy cả, nhưng sao lại nhiều bịnh tật. Trẻ em thì hay bị béo phì. Trong thời đại A.I. tân tiến, phải chăng con người nên tận dụng kỹ thuật một cách khôn ngoan thì tốt hơn cho sức khỏe của mình?
Ôi! Miền quá khứ, miền ký ức tuổi thơ bất tận của tôi ơi! Miền ký ức thân thương nay đã xa vắng, chỉ còn lại những chuyến xe ngược xuôi của dòng đời này sẽ đưa ta về đâu? Trong số ấy, sẽ có chuyến xe limousine đen cuối cùng và một đoàn cảnh sát (nếu ở Mỹ), long trọng tháp tùng đưa ta về bên kia thế giới, vào lò thiêu hay vào lòng đất mẹ. Sẽ có mấy người tiễn đưa ta? Ngày chào đời ta khóc, người cười; ngày lìa đời, người sẽ khóc tiếc thương ta.
Bài và hình ND