Cuộc đời mỗi người suy cho cùng là một chuỗi những món nợ, không nợ tiền bạc thì nợ nghĩa tình. Nhạc sĩ Anh Bằng từng nhắc nhở món nợ ấy qua dòng nhạc: “Anh còn nợ em, công viên ghế đá… lá đổ chiều êm”. Nhưng bước ra khỏi thế giới lãng mạn của âm nhạc, thực tế khác hơn, khốc liệt hơn.

Những món nợ kinh tế không tình tứ như ghế đá công viên, chúng như những chiếc cối đá khổng lồ đè nặng lên vận mệnh của cả một dân tộc. Không một quốc gia nào đứng ngoài vòng xoáy đó, Mỹ là nền kinh tế đứng đầu thế giới cũng nợ ngập đầu…

Món nợ đầu tiên

Món nợ đầu tiên của nước Mỹ bắt đầu từ năm 1775, khi khởi động cuộc Chiến tranh Giành Độc lập (1775–1783) để tách ra khỏi Anh quốc. Vua Louis XVI của Pháp cung cấp tiền, vũ khí, tàu chiến và các khoản vay để giúp Mỹ duy trì quân đội chống lại Anh. Nếu không có sự hỗ trợ của Pháp, cuộc chiến giành độc lập của Mỹ sẽ vất vả hơn rất nhiều. Ngoài Pháp, Mỹ còn vay của Hà Lan, Tây Ban Nha…Tính đến năm 1790, tổng nợ của chính phủ Mỹ khoảng 79 triệu USD, tương đương hàng chục tỉ hiện nay, trong đó khoảng 11–12 triệu USD là nợ nước ngoài (chủ yếu của Pháp và Hà Lan), khoảng 67 triệu USD là nợ trong nước (trái phiếu và giấy ghi nợ do chính phủ liên bang và các tiểu bang phát hành cho dân, binh sĩ và các cơ sở sản xuất).

Thời đó, nợ phần lớn dùng để trả lương cho binh sĩ, mua lương thực, vũ khí và đạn dược…

Món nợ tiếp theo

Trong thế kỷ XIX, nợ công nước Mỹ tăng vọt mỗi khi tham gia chiến tranh, năm 1812, Chiến tranh Mỹ – Mexico ngốn khoảng $2.6 tỉ, rồi Nội chiến Hoa Kỳ (1861–1865) nướng gần $7 tỉ cho cả hai bên. Cứ vậy,  sau mỗi cuộc chiến, Mỹ è lưng trả nợ.

Sang thế kỷ XX, hai cuộc Thế Chiến khiến nợ của Mỹ tăng vọt, chính phủ cần một nguồn tài chính khổng lồ để sản xuất tàu chiến, máy bay, xe tăng, vũ khí, lương thực và hỗ trợ đồng minh. Sau Thế chiến II, nợ công Hoa Kỳ vượt quá 100% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Tuy nhiên, nhờ kinh tế tăng trưởng mạnh thời hậu chiến, nên số nợ sau đó giảm đi nhiều.

Nhưng từ thập niên 1980 đến nay, nợ nước Mỹ cứ tăng liên tục.

Nước Mỹ trong giai đoạn Chiến tranh giành độc lập, tách ra khỏi Anh quốc, tiêu tốn khoản chi tiêu khổng lồ để nuôi quân và sắm sửa quân trang, quân dụng, vũ khí…

Tại sao?

Nguyên nhân là những lần cắt giảm thuế để kích thích kinh tế, trong khi chi tiêu cho quốc phòng, an sinh xã hội, y tế và các chương trình công đội lên. Các cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq tiêu tốn hàng nghìn tỉ đô la. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 buộc chính phủ chi những khoản rất lớn để cứu hệ thống ngân hàng và hỗ trợ nền kinh tế. Tiếp đến đại dịch COVID-19, chính phủ tung ra gói cứu trợ hàng nghìn tỉ đô la làm nợ công phình to.

Để có tiền chi trả, chính phủ Hoa Kỳ tiếp tục phát hành trái phiếu Kho bạc (U.S. Treasury bonds). Người mua trái phiếu rất đa dạng: dân Mỹ, các quỹ hưu trí, ngân hàng, công ty bảo hiểm, Cục Dự trữ Liên bang và các quốc gia Nhật Bản, Vương quốc Anh và Trung Quốc cũng nhảy vào mua, họ trở thành những chủ nợ của Mỹ.

Nhìn rầm rộ vậy nhưng phần lớn nợ công hiện nay nằm trong tay nhà đầu tư và tổ chức trong nước Mỹ. Nhiều người thắc mắc rằng nợ của Hoa Kỳ đã lên đến vài chục nghìn tỷ đô la, tại sao thiên hạ vẫn mua ào ào?

Xem thêm:   Những đôi giày để lại

Trước hết, Chính phủ Mỹ được xem là một trong những con nợ uy tín nhất thế giới. Trong hơn hai thế kỷ qua, Mỹ luôn thanh toán đầy đủ tiền gốc lẫn lãi cho người giữ trái phiếu. Uy tín được xây dựng trong thời gian dài đã khiến trái phiếu Mỹ (U.S. Treasury bonds) trở thành một trong những tài sản an toàn nhất trên thị trường tài chính quốc tế.

Một lý do khác là Mỹ vay bằng chính đồng đô la Mỹ – đồng tiền do chính mình phát hành và cũng là đồng tiền dự trữ quốc tế lớn nhất thế giới. Điều đó giúp chính phủ Mỹ có khả năng gom vốn dễ dàng hơn các quốc gia khác. Có một thắc mắc rằng, thế Mỹ thoải mái in tiền để trả nợ hay sao? Nếu cứ làm như vậy thì đồng đô la chẳng mấy chốc sẽ trở thành “giấy lộn”, chẳng hơn bao nhiêu đồng bolivar của Venezuela!

Đúng vậy, Mỹ có thể in dollars, nhưng thực ra không thể in tùy tiện, sẽ sinh ra lạm phát, đồng tiền mất giá rất nhanh, khiến niềm tin của người dân và nhà đầu tư sẽ sút giảm nghiêm trọng.

Hitler (thứ 3 phải qua) đang duyệt binh tại Warsaw (Ba Lan) năm 1939

Ai sẽ in tiền?

Chính phủ Mỹ hiểu rất rõ những rủi ro đó, do vậy quyền phát hành tiền được giao cho 2 cơ quan với 2 vai trò khác nhau. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm in và đúc tiền, tuy nhiên, việc in những tờ tiền này phần lớn để thay thế các tờ tiền cũ bị hư hoại, Bộ Tài chính không được phép tự ý in thêm tiền để chi trả cho các khoản nợ của chính phủ.

Cơ quan quyết định lượng tiền trong nền kinh tế là Cục Dự trữ Liên bang (Federal Reserve – Fed), ngân hàng trung ương của Hoa Kỳ. Fed hoạt động độc lập với Bạch Cung và Quốc hội. Có nghĩa là Tổng thống không thể ra lệnh cho Fed in thêm tiền chỉ vì ngân sách đang thiếu hụt.

Vậy ai cấp phép cho Fed? Trên thực tế, Fed không cần xin phép ai cả. Quốc hội Hoa Kỳ đã thành lập Fed bằng luật từ năm 1913 và giao cho cơ quan này nhiệm vụ điều hành chính sách tiền tệ nhằm đạt 3 mục tiêu: ổn định giá cả, duy trì việc làm và hỗ trợ hệ thống tài chính. Theo luật, Fed có quyền tự quyết định khi nào nên in thêm và in bao nhiêu.

Ai làm chủ trái phiếu Mỹ?

Nhiều người nghĩ rằng Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất của nước Mỹ, nhưng không phải, phần lớn trái phiếu Mỹ hiện nay nằm trong tay dân Mỹ. Khoảng 70% tổng số trái phiếu kho bạc do dân chúng, các nhà đầu tư và tổ chức trong nước sở hữu. Trong đó có Cục Dự trữ Liên bang (Fed), các quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm, ngân hàng, quỹ đầu tư và hàng triệu người dân Mỹ nắm giữ thông qua các quỹ tiết kiệm hoặc quỹ đầu tư.

Khoảng 30% còn lại thuộc sở hữu của nước ngoài. Nhật Bản giữ nhiều nhất với 1.2 nghìn tỉ USD. Đứng thứ nhì là Anh, khoảng 930 tỷ USD. Trung Quốc khoảng 650 tỉ USD. Ngoài ra, các quốc gia như Pháp, Canada, Luxembourg và nhiều quốc gia khác cũng giữ một số trái phiếu Kho bạc Mỹ.

Lính Mỹ tham dự Đệ nhị Thế chiến tại Normandy (Pháp) đang quan sát máy bay đồng minh

Mỹ có mua trái phiếu nước khác không?

Xem thêm:   Bây giờ mùa hạ sen nở nốt(*)

Nếu thiên hạ đổ xô làm chủ nợ của Mỹ, vậy liệu Mỹ có mua trái phiếu của các quốc gia khác để tạo sự quân bình không? Câu trả lời là có, nhưng rất ít. Mỹ có mua trái phiếu của Euro và Nhật Bản, không phải để kiếm lợi nhuận mà có sẵn một ít ngoại hối để sử dụng khi cần thiết. Tổng số khoảng 250 tỉ USD, ít hơn hàng trăm lần lượng trái phiếu nước ngoài nắm giữ của Mỹ.

Vì sao Mỹ không đầu tư nhiều vào trái phiếu của các quốc gia khác? Nguyên nhân chính là Mỹ không cần. Đồng USD là đồng tiền dự trữ quốc tế và cũng là đồng tiền được sử dụng rộng rãi nhất trong thương mại toàn cầu, nhiều quốc gia cần có USD để ổn định tỉ giá và giao dịch quốc tế.

Mỹ nợ bao nhiêu?

Khoản nợ công của Hoa Kỳ hiện đạt mức cao chưa từng có trong lịch sử. Theo số liệu mới nhất của Bộ Tài chính Hoa Kỳ, tổng nợ công đã vượt 39 nghìn tỉ USD. Như vậy mỗi năm nước Mỹ phải trả lãi 1.2 nghìn tỉ đô la, mỗi tháng trả lãi 100 tỉ USD, mỗi tuần khoảng  $24 tỉ hay $3.3 tỉ mỗi ngày, số tiền mỗi ngày đủ để xây dựng cả lố bệnh viện hiện đại, hàng chục trường đại học hoặc hàng trăm miles đường cao tốc.

Vậy nước Mỹ trả nợ như thế nào?

Nhiều người nghĩ rằng khi Mỹ vay hàng chục nghìn tỷ đô la thì mỗi năm phải cần một khoản tiền khổng lồ để trả nợ. Thực tế chính phủ Mỹ không trả hết nợ gốc mà chủ yếu đảo nợ (debt rollover). Thay vì dùng tiền mặt để trả toàn bộ số nợ đó, Bộ Tài chính Mỹ phát hành trái phiếu mới để gom tiền từ các nhà đầu tư. Số tiền thu được sẽ được dùng để thanh toán cho các trái phiếu cũ đến hạn. Nói cách khác, Mỹ vay khoản nợ mới trả cũ. Đây là quá trình được gọi là “đảo nợ” (rolling over the debt).

Ví dụ, nếu hôm nay có 1,000 tỉ USD trái phiếu đáo hạn, Chính phủ Mỹ phát hành khoảng 1,000 tỉ USD trái phiếu mới. Số tiền thu được sẽ dùng thanh toán cho những người đang giữ trái phiếu cũ.

Nhiều người lo ngại rằng việc liên tục vay mới để trả nợ cũ giống như mô hình Ponzi không? Lịch sử đã ghi nhận nhiều vụ Ponzi nổi tiếng, năm 2008, Bernard Madoff bị phát giác là tay lừa đảo lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ với quy mô khoảng 65 tỉ USD, bằng hình thức mượn người sau trả người trước.

Khác với Ponzi và các hình thức lừa đảo tài chính, với những thông tin giả tạo, mập mờ. Chính phủ Mỹ luôn có báo cáo công khai và hợp pháp, không hứa hẹn, không che giấu.

Một nhân viên tại nhà máy in tiền

Tại sao Mỹ không trả dứt nợ?

Nhiều người thấy Mỹ đang gánh khoản nợ khổng lồ, và lo lắng hỏi liệu nước Mỹ có cách nào trả hết số nợ này hay không?

Câu trả lời có thể khiến nhiều người sẽ ngạc nhiên, là không. Họ vẫn muốn duy trì khoản nợ ở mức mà nền kinh tế vẫn có thể gánh vác. Mỹ vay nợ giống như một hình thức mượn vốn, với số vốn đó, ví dụ, sinh lãi 7%, trả 5% vẫn còn lời!

Trong lịch sử, Hoa Kỳ từng nhiều lần giảm đáng kể tỉ lệ nợ công. ngày 8 tháng 1 năm 1835, Hoa Kỳ thanh toán sạch nợ. Đây cũng là lần duy nhất trong lịch sử Mỹ hoàn toàn không mắc nợ. Cuộc suy thoái kinh tế năm 1837 cùng với nhu cầu chi tiêu của chính phủ, Hoa Kỳ vay nợ trở lại. Sau đó, nợ công tăng mạnh mỗi khi tham gia chiến tranh. Nội chiến Hoa Kỳ (1861–1865) khiến nợ tăng nhiều lần. Đến Thế chiến I và đặc biệt là Thế chiến II, Chính phủ Mỹ phải vay những khoản tiền khổng lồ để phục vụ cho tiền tuyến. Tuy nhiên, nhờ nền kinh tế tăng trưởng rất nhanh trong suốt các thập niên 1950 và 1960, nợ liên tục giảm. Đến năm 1974, tỷ lệ nợ công của Mỹ chỉ còn khoảng 31% GDP. Đây được xem là một trong những giai đoạn tài chính khỏe mạnh nhất của chính phủ Hoa Kỳ.

Xem thêm:   Spain đằng sau chiếc cúp

Từ đầu thập niên 1980, bắt đầu đảo chiều. Việc cắt giảm thuế, tăng chi tiêu quốc phòng, dân số lão hóa, các chương trình an sinh xã hội, các cuộc chiến tại Afghanistan và Iraq, cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và đại dịch COVID-19 khiến nợ công tăng ầm ầm.

Nợ có chủ ý?

Tôi có một người bạn, sau khi pay-off căn nhà. Anh ấy rút equity ra, down mua căn nhà thứ nhì cho thuê, sau đó mượn thêm bank một ít, mua căn thứ 3, đến nay anh ta có 7 căn nhà cho mướn, anh ta gần như không phải làm gì, mỗi tháng vẫn có thu nhập đều đặn, thậm chí dư dả.

Nước Mỹ cũng vận hành theo triết lý tương tự, không chủ trương xóa sạch mọi khoản nợ, dùng vốn vay để tạo ra giá trị lớn hơn chi phí phải trả. Chừng nào nền kinh tế còn tăng trưởng nhanh hơn chi phí vay nợ và các khoản nợ vẫn được kiểm soát, thì nợ vẫn có thể là một công cụ giúp nền kinh tế phát triển, chứ không chỉ đơn thuần là gánh nặng.

Tính theo GPD thì Mỹ không hẳn là quốc gia thiếu nợ nhiều nhất, Nhật mới là số 1, nợ gấp 204% GDP, tiếp theo là Singapore, nợ gấp172% GDP, Ý nợ 138% GDP, Hy Lạp khoảng 137% GDP, Mỹ 126% GDP, Pháp 118% GDP, Canada 111% GDP Anh 104% GDP…

Như vậy, nợ thể hiện phần nào uy tín quốc gia, cụ thể như các hãng credit card sẽ không bao giờ chào mời bạn, nếu điểm credit của bạn thấp lè tè. Ngoài ra còn một yếu tố khá sâu xa khác, là khi mua trái phiếu của Mỹ, giống như mua cổ phần của một công ty, người mua không bao giờ muốn công ty đó sập tiệm. Như vậy các nhà “đầu tư” sẽ cân nhắc khi muốn gây thiệt hại cho nước Mỹ hay nền kinh tế Mỹ.

Nếu chỉ dựa vào uy tín cũng chưa đủ, chính phủ Mỹ thu thuế từ trái sang phải, chưa kể còn có vô khối tài sản, lớn nhất là đất đai, chính phủ liên bang hiện sở hữu khoảng 640 triệu mẫu Anh (acre), tương đương gần 2.6 triệu km², chiếm khoảng 28% diện tích đất đai toàn quốc. Bên cạnh đất đai, chính phủ Mỹ sở hữu tài nguyên khóang sản, hàng trăm nghìn tòa nhà và cơ sở hạ tầng trên khắp cả nước, gồm trụ sở các bộ ngành, tòa án liên bang, bưu điện, viện nghiên cứu, bệnh viện, căn cứ quân sự, sân bay quân sự, cảng biển, và nhiều công trình khác …

Bernard Madoff tác giả của vụ lừa đảo tài chính theo mô hình Ponzi tinh vi nhất trong lịch sử nhân loại. Tổng số tiền các nạn nhân bị chiếm đoạt khoảng 20 tỉ USD. Mạng lưới vòi bạch tuộc của Madoff không chừa một ai, từ các định chế tài chính sừng sỏ trên toàn cầu cho đến các quỹ từ thiện và giới siêu sao. Madoff vào tù tháng 12 năm 2008 sau khi nhận mức án 150 năm. Nhưng ông qua đời năm 2021 ở tuổi 82 tại nhà tù Liên bang Butner.

Kết

Nếu bạn đang sống ở Mỹ, và lo lắng cho nợ nần của nước Mỹ, chứng tỏ bạn là người có trách nhiệm và yêu nước. Đất nước mà cha ông của họ đã đổ bao nhiêu mồ hôi, xương máu để gầy dựng cho bạn và gia đình được hưởng tự do, sự đủ đầy và bình an.

Chừng nào thế giới vẫn còn tin tưởng cho Mỹ vay vốn, điều đó cho thấy nền kinh tế Mỹ vẫn được đánh giá cao, vẫn ăn nên làm ra. Điều quan trọng không phải là nước Mỹ có bao nhiêu nợ, mà là nền kinh tế Mỹ đủ sức chứng minh để duy trì niềm tin của những nhà đầu tư hay không.

CT