Đêm. ở Garland

tuyết rơi ngoài trời

Hữu Loan

ông mới vừa ra đi

tôi ngồi. nghĩ đến ông

khi tuyết đã phủ trắng những mái nhà. khu vườn

như trong trăng

tuyết cũng rơi. trên những trang thơ này…

Ðêm thứ bảy 20 tháng 3. 2010, tuyết rơi phủ đầy thành phố Garland, Dallas. Nguyễn ngồi uống trà nóng, vừa mở xem những trang web. Trang nào cũng có tin nhà thơ Hữu Loan ra đi. Giữa lúc ấy, vọng tiếng nói từ xa: Ông viết một bài về Hữu Loan đi. Ông cũng có thơ Kẻ Sĩ Nga Sơn mà! Hữu Loan là một tài năng và nhân cách đáng quý. Và đáng được có một bài như eulogy chẳng hạn. Mong lắm!

Vậy nên có bài viết sau đây.

Những năm học trung học ở Huế, Nguyễn đã biết Màu Tím Hoa Sim của ông. Cũng như bao học sinh khác thời ấy, Nguyễn thấy lòng vương vấn với màu tím của loài hoa hoang dã này và xúc động với mối tình của chàng trai thời chinh chiến và cô gái nhỏ hậu phương. Tuy nhiên, qua cái thời kỳ lãng mạn của tuổi mới lớn, Nguyễn thích Đèo Cả của ông hơn. Bài thơ có những nét sắc, mạnh, và mới lạ, từ cảm xúc đến ngôn từ -với “núi cao vút / mây trời Ai Lao sâu đại dương…dưới cây/bên suối độc /cheo leo chòi biên cương tóc tai trùm vai rộng / đêm canh gặp hùm lang thang…” Nhất là câu cuối: Suối mang bóng người / Trôi những về đâu…. Những năm đi tù Cộng Sản về, được đọc bài Khóc Tướng Nguyễn Sơn của ông, lòng Nguyễn dấy lên một cảm xúc lạ, đau đớn và tưởng tiếc. Một đám tang phủ cờ đỏ / nấc lên màu huyết. Một đám tang đi / Không bao giờ tới huyệt…  Và bài Tình Thủ Đô, đoạn đầu, với những nét hiện thực và tình cảm sâu đậm:

Trên những chuyến xe

Đi về đường Trèm Vẽ

Việt Bắc âm u

Đường dài Thanh Nghệ

Người Thủ đô tản cư

Đoàn xe đi

Chở nặng tâm tư

Một góc nhà

Một hè phố

Mắt em biếc

Một chiều xưa

Quan Thánh

Cổ Ngư

Bạch Mai

Bóng liễu Tháp Rùa

Một thằng bạn

Một thằng con

                ở lại

Nhà thơ Hữu Loan – Ảnh: Duy Anh 

Nguyễn yêu ông vì những bài thơ ấy. Ông làm thơ với cái tâm rất thật và ông sống như những bài thơ của ông. Yêu thơ ông, Nguyễn càng cảm phục và cảm thương cuộc đời ông, khí tiết kẻ sĩ của ông. Nó là viên ngọc sáng ngời giữa cõi đời bụi bặm này. Cuộc đời của ông có những nét ngang tàng nhưng bi thảm và đầy oan khốc. Khoảng năm 1940, đang dạy học yên ổn ở nhà bà Kỳ, ông từ giã, lên đường theo Kháng Chiến. Chín năm sau, ông về phép và làm đám cưới với cô Lê Đỗ Thị Ninh con gái bà Kỳ mới 17 tuổi. Cưới nhau xong là đi để rồi hơn tháng sau nhận được tin bà Ninh chết đuối. Ông viết bài Màu Tím Hoa Sim để kỷ niệm tình yêu của ông với nàng. Bài thơ bay khắp, đến với mọi người, làm xúc động mọi tấm lòng, và vẫn còn âm hưởng cho tới nay. Ông kể lại: “Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông …Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động… Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?…”

Xem thêm:   Tìm về những quán cà phê xưa

Nhìn lại, cuộc đời thanh niên của ông gắn liền với giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau cách mạng Tháng Tám, ông được cử làm ủy viên Văn Hóa trong Ủy Ban Hành Chính Lâm Thời tỉnh Thanh Hóa. Rồi ông tham gia đội quân chống Pháp, phục vụ ở đại đoàn 304. Khi Hiệp Định Geneve ra đời, ông về Hà Nội, làm báo Văn Nghệ một thời gian. Khoảng thời gian 1956-1957, ông tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm do nhà văn Phan Khôi chủ trương. Một số bài viết và thơ của ông (bài Những Thằng Nịnh Hót là tiêu biểu) đả kích kịch liệt các tiêu cực phổ biến trong hàng ngũ cán bộ cộng sản đã dẫn đến tai họa cho ông khi phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị đàn áp. Đau đớn, tuyệt vọng, ông trở về quê ẩn dật nhưng nào được yên thân. Qua một số cuộc phỏng vấn, ông tiết lộ từng bị cán bộ Cộng Sản tìm cách ám hại, đầu độc nhiều lần nhưng ông đều thoát được. Từ làm ruộng, kéo xe cút kít, vác đá, mò cua bắt ốc để mưu sinh, ông đi suốt một chặng đường dài bề ngoài có vẻ âm thầm nhưng thật sự là cuộc chiến đấu không ngừng nghỉ giữa cái thiện và cái ác, giữa ông và chế độ độc tài đảng trị. Ông lấy bà vợ thứ hai là bà Phạm Thị Nhu. Bà mê thơ ông, thường đứng nấp ngoài hiên nghe ông giảng Kiều. Bà sinh cho ông được mười người con, 6 trai, 4 gái. Hỏi ông sao sinh nhiều con thế, ông trả lời hóm hỉnh, “Để chúng về phe mình chứ!”

Xem thêm:   Những cánh diều trên thành phố Kabul

Năm tháng trôi qua. Ông như cây hoa xoan đầu làng, lặng lẽ ra hoa… Xin nghe lời tâm sự của ông:  “Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.”

Rồi ông kể tiếp, “Năm 1988, tôi “tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do Hội Văn Nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí-xuất bản và đổi mới thực sự.”

Năm 1988, Nguyễn gặp Hữu Loan ở Sài Gòn, tại nhà Hà Thượng Nhân, ở khu Nhà Thờ Ba Chuông. Ông và Hà Thượng Nhân là bạn cùng lứa tuổi và cùng xuất thân từ quê hương Thanh Hóa, nên rất gắn bó thân thiết với nhau. Hai ông vẫn xưng “mày tao” với nhau như hồi còn nhỏ.  Gặp ông, thấy ông tuy hơi gầy, tóc bạc trắng trùm xuống đôi vai, nhưng tinh thần vui tươi, tỏa sáng. Chính dịp này, ông đọc cho Nguyễn nghe lại bài Đèo Cả và nhấn mạnh hai câu chót Suối mang bóng người  / Trôi những về đâu… Những người trấn Đèo Cả năm xưa ấy đã đi đâu về đâu. Ông cũng đọc cho nghe bài Khóc Tướng Nguyễn Sơn bi tráng và khốc liệt. Hà Thượng Nhân cho biết kỳ này Hữu Loan làm một cuộc hành trình về Phương Nam thăm bạn bè văn hóa và nhân tiện ghé chơi nhà con gái ở Lâm Đồng. Một buổi tối có trăng, Hà Thượng Nhân mời Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Nguyễn Trung Dũng… và Nguyễn tôi đến uống rượu chơi… Kẻ sĩ Phương Nam, tất cả đều qua trại tù Cộng Sản ra tận Sơn La, Yên Bái, Nghệ Tĩnh… hội ngộ cùng kẻ sĩ Bắc Hà, người không biết cúi đầu trước cường quyền và bầy lang sói. Mấy anh em ngồi trên vuông chiếu, trong sân, dưới bóng cây ngọc lan…

Nhà thơ Hữu Loan và người vợ thứ hai. (Hình: Người Đưa Tin)

Sau năm 1988, ông về sống lặng lẽ ở Vân Hoàn, quê mình. Nhiều người đến thăm ông như thăm một kẻ sĩ sáng danh của thời đại. Người hiền sĩ, bậc trượng phu ấy, thương ôi, đã ra đi ngày 18.3.2010. Tin từ trong nước cho biết: Trong lúc chờ đợi con cái về đông đủ, bà Nhu, vợ ông và 4 người con ở quê đã khâm liệm đặt ông vào quan tài yên nghỉ, và ngày 19 tháng 3. đưa ông về nghĩa trang của xã Nga Lĩnh, nơi yên nghỉ cuối cùng của ông.

Xem thêm:   Giã từ. giã từ…

Ông Hữu Loan,

Nguyễn tôi gặp ông có một lần nhưng biết ông thì đã từ lâu. Lòng yêu và quý ông được gửi trong bài thơ Kẻ Sĩ Nga Sơn viết năm 1988, sau khi được cùng ông hội ngộ và nghe kể những mẩu chuyện khốc liệt về đời ông. Bài thơ in trong tập Tôi Cùng Gió Mùa, tiếc rằng ông chưa được đọc. Đêm nay tuyết xuống đầy trời, phủ trắng thành phố Garland nơi Nguyễn ở. Theo một nghi thức đã làm khi được tin bạn học / bạn văn Trần Đông Phong ra đi hồi tháng rồi, Nguyễn bưng ly trà ra đứng trước sân tuyết phủ, hớp xong một ngụm rồi rưới trà lên tuyết trắng chiêu hồn tưởng niệm ông và thầm đọc cho ông nghe bài Kẻ Sĩ Nga Sơn năm nào. Trong bài, Nguyễn hình dung ông đi cày ruộng chứ không phải đi xe đá. Như kẻ sĩ thời xưa, vậy đó.

 

Kẻ sĩ Nga Sơn

 

sáng. quẩy níp lên nương

canh gà. treo. điếm cỏ

chuôi cày. bóng. mặt trăng

đất vun. sóng. sông mã

 

kẻ sĩ. miền nga sơn

một túp lều. xiêu xó

chờ cơn giông. đọc thơ

điếu cày. reo. tiếng đục

lửa bếp tàn. sương khuya

 

thơ bay. đồi hoa gạo

ối đỏ. đầy quán không

xứ xứ. hồn u khốc

ngày kêu. ngoài bãi sông

 

cát bồi. mây núi sụt

nước cuốn phăng mấy làng

trời một vùng châu phủ

đêm. nghe tiếng hổ. gầm

 

gió mùa. về châu phủ

nhà trống tuếch trống toang

dậy bóng đoàn thu sản

che khuất một vầng trăng

 

sông mã. trôi. sông mã

nguồn cao. sóng réo gầm

 

người túa ra sân ga

người lang thang. phố chợ

thân gầy. áo rách tươm

khất đồng tiền của quỷ

mẹ bán con làng bên

mai này con hết khổ

chó nhà ai đi hoang

nửa đêm về cào cửa

đời siết mấy dây oan

 

tóc râu. như lão tử

trùm lên bóng trâu xanh

mài bút. viết bi ký

rau dưa. khổ. thánh hiền

 

sông mã. trôi. sông mã

xa rồi. trời phương nam

trông vầng trăng. đá núi

còn nghe. sóng biếc gầm

TN