“…Chỉ là những câu chuyện vụn vặt được chắp nối qua những mảnh đời dân quê miệt kinh rạch hầu san sẻ cùng bạn trẻ, những người chưa hoặc không có dịp sống gần gũi với dân ruộng về các miền kinh rạch ấy như một nét đặc thù của văn minh Việt bên cạnh một nếp “văn minh miệt vườn” khá sung túc, trù phú…” (Hai Trầu Lương Thư Trung).
Luôn tự nhận mình là một “người nhà quê”, nhưng ai cũng hiểu là cách nói khiêm cung của một học giả, kiến thức quảng bác, như bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trìu mến nhận định “Nó là văn chương miệt vườn. Sau này muốn biết về miền Nam mưa nắng hai mùa ra sao thì phải đọc Sơn Nam và Hai Trầu thôi.”.
Mời bạn cùng chúng tôi dạo chơi cùng mưa nắng miền Nam…

(tiếp theo)
Rồi tui có đọc bài viết về dạy chữ Việt ở bên Úc của thầy Nguyễn Hưng Quốc, nghe thầy ấy kể ngày xưa thấy thầy cô giáo làng trong lớp và ngoài đời hai thái cực cách biệt mà thầy không muốn làm thầy dạy học vì chẳng chút sung sướng gì phải giảng đi giảng lại ba cái cũ cái xưa hoài. Nhưng nay thì thầy vẫn không thoát được cái nghiệp gõ đầu trẻ. Ghét của nào trời trao của ấy mà!!! Không thích cũng không được. Nên tui mới nhớ câu Kiều, xin chép gởi an ủi thầy Quốc:
”Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.”
Nhớ thầy Quốc không thích cái nghề dạy học, tui mới nhớ hồi trước lúc tụi tui còn nhỏ lắm, ở vùng tui, thấy ai làm thầy giáo là quý lắm. Đi đâu cũng kẻ chào người trọng. Mà trọng thiệt tình chứ không có môi mép gì. Một chữ cũng thầy, hai chữ cũng thầy mà! Đâu phải chuyện giá áo túi cơm. Thành ra có một thời, trong dân gian truyền tụng câu chữ này mà tụi tui hằng mơ được thoát cảnh chăn trâu để đi học cho biết chữ: “phi sư phạm bất thành phu phụ”. Do vậy mà ở đây ai có bằng cấp sư phạm, dù sư phạm cấp tốc dạy các lớp đồng ấu, sơ học, tiểu học thôi cũng thấy đời lên hương, đã lắm!!!
Tui mơ lắm các thầy ơi, mơ làm thầy giáo làng dữ lắm, nhưng giữa mơ và thực thường là ảo ảnh, như Lý Bạch mò trăng. Khó lắm! Khó lắm! Chứ chẳng phải chuyện giỡn chơi!
Nhiều lúc buông cày đứng giữa đồng tui hay ngẫm nghĩ mình phải dạy học mới được. Dạy a, b, c cò gì cũng được, miễn là dạy cho mấy đứa con nít ở kinh xáng Bốn Tổng này biết chữ để đời chúng khỏi mù chữ là được. Chứ cứ đọc báo ngược hoài thì thấy cũng đáng thương thiệt. Rồi tui mới mở lớp học trong cái chuồng bò, quy tụ được đâu chín, mười đứa mũi dãi tèm lem vào ngồi trên những tấm ván xoài kê làm bàn, vậy mà rồi tui được chòm xóm láng giềng kêu tui là thầy Hai Trầu. Thiệt đã quá mạng!!!
Thưa các thầy,
Ở đời này cái gì cũng có căn, có gốc hết trơn, chứ không dưng ai dễ kêu thầy được đâu! Số là đời ông Cố Ngoại tui, nghe má tui kể lại là thuộc dòng giống họ Mạc ở tuốt dưới Hà Tiên, rồi sau này dìa miệt Long Xuyên, không biết sao ông Cố tui mới đổi lại họ Nguyễn. Thành ra tới đời ông Ngoại, rồi má tui cùng mấy cậu mấy dì đều đổi ra họ Nguyễn ráo trọi. Cùng là họ Nguyễn nhưng chắc chắn không có bà con với Nguyễn Hưng Quốc, vì tiền căn bên ngoại tui là họ Mạc mà!
Ông Cố tui dạy học. Ông Ngoại tui cũng dạy học và làm ruộng. Rồi đến đời má tui lấy chồng gặp Tía tui họ Lương. Mà họ Lương cũng là gốc gác bên Tàu. Nên đời ông Cố Nội tui dạy học; rồi ông Nội tui lại là ông đồ Nho nghèo. Chữ Nho vì vậy mà ở vùng quê tui ai cũng biết chút chút. Làm ruộng là lo miếng cơm. Chữ Nho là lo phần trí não cho thông mà hiểu biết lễ nghĩa ở đời.
Hồi xưa học chữ Nho là để tu thân hơn là làm quan. Nên cả hai bên nội ngoại tui đều chú trọng việc tu dưỡng tinh thần và lấy miếng ruộng làm nền chơn chất. Chính vì vậy mà khi tui có đọc qua bộ tiểu thuyết “Sông Côn Mùa Lũ” của thầy Nguyễn Mộng Giác, tui mới thương ông giáo Hiến, kẻ sĩ giữa thời loạn, giống như ông bà tổ tiên tui phải chạy giặc Thanh bên Tàu lưu lạc xứ An Nam mà vẫn giữ cái giềng Khổng Mạnh. Nhắc một chút “lý lịch trích ngang” như vậy để các thầy thông cảm sao mà dân quê như tui lại mê ba cái chữ, nói hoài không chán là vậy!

Thầy giáo “bất đắc dĩ” – nguồn facebook
Thưa các Thầy,
Nhân nhắc tới ông giáo Hiến trong “Sông Côn Mùa Lũ” là tui nhớ các nhân vật trong bộ tiểu thuyết này quá mạng. Sông Côn Mùa Lũ là tiểu thuyết lịch sử mà! Cái gì dính tới lịch sử là có tranh hùng, có giết chóc lẫn nhau, nói gì thầy Nguyễn chọn thời kỳ Tây Sơn với nhà Nguyễn, một thời loạn lạc khắp nơi, chết chóc thành biển máu núi xương. Chúa Nguyễn phải chạy vô miệt sình lầy Cà Mau, Rạch Giá, Long Xuyên này nhiều bận thân sơ thất sở. Các thầy chắc rành ba cái vụ này quá mạng. Tui chỉ nói vậy thôi. Chứ tình thiệt là tui muốn nhắc gia đình ông giáo Hiến, vì tui thương ông giáo Hiến dữ lắm. Đó là hình ảnh một thời của ông Cố tụi tui mà. Cũng chạy loạn, rồi đổi họ đổi tên vì giặc loạn. Ông giáo Hiến giã từ Phú Xuân về Tây Sơn Thượng nơi đất Bình Định xưa cũng giống như tổ tiên tui về Long Xuyên ngày trước. Chỉ có điều ông giáo Hiến dạy học cho vua sau này, ông cha tui dạy học cho dân quê dốt nát. Khác nhau là vậy!
Phải công nhận một điều là vào những ngày già này mà đọc được Sông Côn Mùa Lũ vào lúc đồng lúa đang mùa mưa, lá tốt xanh đồng là sướng. Bộ sách chẵn chòi một trăm chương, mà chương này liền với chương kia như keo sơn gắn bó là phải công nhận cái tài bố cục của thầy Nguyễn. Nhưng cái tài của nhà tiểu thuyết ở chỗ là lịch sử không thể thêm bớt, mà tác giả thêm rắn thêm rồng qua gia đình ông giáo Hiến quan thiết với nhà Tây Sơn là đáng nể thiệt. Ông giáo Hiến mang lòng thờ chúa Nguyễn mà phải dạy anh em nhà Tây Sơn là một nỗi giày vò trong lòng ông dữ lắm! Dạy Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ hết lòng với mơ ước Nguyễn Huệ là minh quân, anh hùng, nhưng chuyện đời đâu có đơn giản như mình tưởng. Dù hết lòng chỉ dạy học trò mà Nguyễn Nhạc vẫn nghi hoặc mình, để những ngày cuối đời ông giáo Hiến bị Nguyễn Nhạc thất sủng, quả cũng đau!!! Rồi nào là Kiên, con ông giáo Hiến chơi thân với Nguyễn Lữ, và Lãng vừa là bạn với Nguyễn Huệ vừa là kẻ thuộc quyền được Nguyễn Huệ tín cẩn.
Đọc tiểu thuyết tui cứ ngỡ rồi đây Lãng sẽ ghi lại cho hậu thế nhiều trang sử sáng ngời qua vai trò người thân của Nguyễn Huệ. Đâu ngờ, Lãng quá yếu đuối, sau này lại phải sống với bà goá phụ già và sau cùng bỏ lên rừng tìm kiếm một loài lan không có trên rừng, vọng tưởng.
Ngoài ra, còn có An, con gái của ông giáo Hiến là người yêu không chính thức của Nguyễn Huệ; cả Lợi nữa, người chồng của An do Nguyễn Nhạc gán ép cưới gả, và về sau này nhơn một âm mưu Lợi định đốt kho thóc và Nguyễn Huệ đành phải hạ lịnh giết Lợi, quả đúng là “tiểu thuyết”.
Như để phân bố câu chuyện có đầu có đuôi, thầy Nguyễn còn tạo thêm một nhân vật khác là đứa con trai của ông giáo Hiến, tên Chinh, lại về phe chúa Nguyễn và bị quân Tây Sơn giết chết trong trận đụng độ ớ miền Tây, làm cho tiểu thuyết thêm phần gây cấn.
Nói gì thì nói, với kết thúc câu chuyện bằng đứa con của An là Thái bắt đầu có kinh nguyệt như An ngày xưa mới vào truyện cũng bắt đầu có kinh nguyệt lần đầu. Một kết cuộc dường như không tương xứng với tư tưởng chính của bộ tiểu thuyết “Sông Côn Mùa Lũ” là triết lý về “chính thống” trong đạo trung quân, mà điển hình là qua các cuộc trao đổi giữa ông đồ Trần văn Kỷ với Nguyễn Huệ, với Lãng, với Phan Huy Ích, cái lẽ “chính thống” được mở ngỏ như một bày tỏ tha thiết của Trần Văn Kỷ với tất cả mọi nhân vật khác khi có cơ hội.
Suốt gần hai ngàn trang sách, thầy Nguyễn đã gởi được tâm sự của mình qua các nhân vật mà ông đã dựng ra theo cách của ông, quả là một công trình sáng tác khó kiếm.

Một lớp học chữ Nho xưa – ảnh internet
Thưa các thầy,
Có điều tui hay ngẫm nghĩ là tại sao các tác giả hay lấy núi sông làm nền cho tiểu thuyết? Chẳng hạn “Sông Côn Mùa Lũ”, rồi thầy thuốc Ngô Thế Vinh lại có “Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng”, vân vân và vân vân… Tui mới tự trả lời cái thắc mắc của tui như vầy, xin trình bày các thầy xem coi có phải hông? Thường kẻ trí hay chọn núi sông hiểm trở để dựng truyện, bởi vì tất cả những thứ ấy đều là biểu tượng cho cái gì cao thượng mà tâm hồn họ luôn luôn ấp ủ vươn tới. Các thầy có thấy vậy hông? Nhớ viết thư cho tui rõ vì tui đang mong từ tiếng nói của các bậc thức giả đắm chìm trong sách vở từ bấy lâu nay!
Thôi thơ đã dài, mà tui cứ muốn viết hoài về tiểu thuyết lịch sử kể cũng hơi lạc đề. Giờ xin trở lại vài chữ mà các thầy hôm bữa nhậu bên bờ kinh xáng Bốn Tổng có ý thắc mắc là tại sao miệt Bến Tre và các vùng có cá kèo hay có từ ngữ “ăn cháo rồ”, và tại sao lại có chữ “coi hát hạng cá kèo”?
Sẵn đây tui cũng xin nói ra cho rõ luôn thể. Số là các miệt Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau là cá kèo nhiều lắm. Cá kèo là loại cá ở trong các hang dưới bùn, hoặc theo bợp dừa nước, và nó chỉ sống bằng cách ăn phấn trên mặt bùn và hớp bọt nước mà sống nên béo mập lắm. Cá kèo mà để nguyên con, không phải đánh vẩy, mổ bụng lấy ruột hoặc chặt vi kỳ gì ráo trọi cá ăn mới ngon, nhất là cái mật hơi đắng đắng, nhẩn nhẩn mới ngon vô kể.
Thường bắt cá kèo, người ta hay đặt bôn hay lọp khi nước lớn cá rời hang lên đồng hoặc khi nước ròng cá trên đồng về lại bến sông. Cá chạy vào đầy bôn, đầy lọp như vậy, nếu các thầy muốn ăn “cháo rồ”, chỉ cần bắt nồi cháo trắng lên nấu cho thiệt là nhừ. Rồi cá tươi còn nhảy soi sói, cứ trút rổ cá kèo đổ vô nồi cháo. Vì cá còn sống, nên gặp nước sôi cá kèo nhảy rồ rồ trong nồi cháo, nên bà con nhà quê gọi là “cháo rồ”.
Sau khi cá kèo nằm êm trong nồi cháo chín nhừ, dân quê chỉ còn lấy cái muỗng vớt bọt, và nêm nếm hành tiêu, nước mắm là dọn ra chiếu ngồi húp cháo nóng cho đã thèm, “cháo rồ” ngọt dữ lắm!. Nếu có thêm chút rượu nếp thấm giọng thì vị “cháo rồ” càng đậm đà biết chừng nào!
Ngoài ra, loại cá kèo này sống theo con nước. Nước ròng chúng rút về hang. Nước lớn chúng theo nước bò lên ruộng, lên đồng. Nước đứng ròng, cá kèo lại biết nước trên đồng sắp rút, chúng lại nhóng cổ gần các bờ đập, bờ ruộng, bờ mương để về lại hang lùm dưới sông. Cá kèo hè nhau nhóng cổ đầy dẫy cặp theo các bờ ruộng như vậy nên dân quê miệt có cá kèo gọi là “cá kèo nhóng cổ”. Từ đó mà trong dân gian, mới có từ ngữ “coi hát hạng cá kèo”, dựa vào cái thực tế như vậy; vì coi hát hạng cá kèo là coi hạng bét, ở xa sân khấu, nên nhiều khi bị che khuất các khán giả ngồi ghế hạng nhứt, hạng nhì, đành phải nhóng cổ lên mới thấy đào kép diễn tuồng giống như cá kèo nhóng cổ chờ theo nước ròng ra sông vậy.
Thưa các thầy,
Cái thư này bữa nay quá dài, mà lời thì bất tận ngôn, nên tui đành phải tạm chấm dứt ở đây. Thiển nghĩ với vài ý vụn vặt như vậy chắc cũng làm các thầy nhớ tới kinh xáng Bốn Tổng của tui thêm và cũng làm cho các thầy vui vui trong ba ngày lễ. Mong lắm thay!!!
Nay thư,
Hai Trầu
(còn tiếp)









