“…Chỉ là những câu chuyện vụn vặt được chắp nối qua những mảnh đời dân quê miệt kinh rạch hầu san sẻ cùng bạn trẻ, những người chưa hoặc không có dịp sống gần gũi với dân ruộng về các miền kinh rạch ấy như một nét đặc thù của văn minh Việt bên cạnh một nếp “văn minh miệt vườn” khá sung túc, trù phú…” (Hai Trầu Lương Thư Trung).
Luôn tự nhận mình là một “người nhà quê”, nhưng ai cũng hiểu là cách nói khiêm cung của một học giả, kiến thức quảng bác, như bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trìu mến nhận định “Nó là văn chương miệt vườn. Sau này muốn biết về miền Nam mưa nắng hai mùa ra sao thì phải đọc Sơn Nam và Hai Trầu thôi.”.
Mời bạn cùng chúng tôi dạo chơi cùng mưa nắng miền Nam…

(tiếp theo)
Những góc đời
Kinh xáng Bốn Tổng ngày… tháng 7 năm 2000
Mấy lời gởi thăm chị Sáu,
Chị Sáu ơi, tui nhận được thư chị mấy bữa rày, rồi lây quây (loay hoay) vụ thằng em tui dựng lại cái nhà vì mưa dông hôm trước làm sập, nên riết tới bữa nay mới ngồi đọc kỹ lại cái thơ của chị, nay mới viết lá thơ này hồi âm cho chị đây.
Thiệt tình, nghe chị kể lại hoàn cảnh người bạn cũ của chị khốn đốn quá chừng, làm tôi càng xót xa trong bụng. Nào là cái cảnh phụ nữ rồi cũng phải bị cái lý lịch cũ mèm nó làm cho đời sống bây giờ thêm khốn đốn. Nào là chồng mê ăn nhậu, bia ôm, bia iếc rồi bỏ bê vợ con tối ngày, vậy mà còn “ôm cầm” kiếm con vợ nhỏ để cho gia đình tan nát nữa. Nào là cảnh làm mướn cho hãng xưởng mấy người Đại Hàn vô nước mình để kiếm cơm với lương hướng rẻ mạt rồi còn bị hà hiếp. Cảnh nào nghe chị Sáu kể tôi cũng bủn rủn tay chân ráo trọi… Thế mới rõ, chẳng những đàn ông nam nhi phải chịu đựng phong trần với thời cuộc đổi thay mà đàn bà phụ nữ cũng bị lôi vô cái “lò cừ nung nấu sự đời” không biết đến bao giờ mới an ổn được!!!
Chị Sáu ơi,
Hôm trước tui lên Lái Thiêu thăm đứa em, bà con chú bác ruột, ở Chợ Búng, bây giờ tui mới thấy miệt vườn bị “đô thị hoá” như vết dầu loang trên mặt nước hay giọt mực tàu loang trên tờ giấy quyến vấn thuốc bánh vậy chị. Chủ vườn bây giờ cây trái bán không khá mà quanh năm suốt tháng cứ phải nai lưng ra chăm sóc cực nhọc quá mạng, nên họ cũng đành bán đất cho ngoại quốc mở ra cơ xưởng. Văn minh kỹ thuật đi tới đâu là mang theo cái vật chất tới đó chị sáu à! Khi vật chất nó lấn cái vườn măng cụt, vườn dâu cũng có nghĩa cái chất nhà quê của mình nó cũng bị mất đi tuốt luốt, chứ không phải “mất đi ít nhiều” như hồi thời Nguyễn Bính làm bài thơ Chân Quê. Vì vậy mà khi trở dìa dưới kinh xáng Bốn Tổng của tui, nhiều đêm nằm ngủ mà tôi cứ chập chờn hoài. Tôi cứ mường tượng là mình đang nằm chiêm bao chứ làm gì có cảnh thay đổi chóng mặt như vậy. Đây rồi, khi nào chị có dịp dìa thăm bà con anh em, chị sẽ khó tìm gặp lại mấy trái măng cụt, mấy chùm dâu, mấy vườn mận mà dân Sài Gòn của chị có một thời mê mệt mấy thứ trái cây miệt vườn trên Lái Thiêu.
Hôm trước, đứa em tui nó viết thơ xuống dưới này cũng nói: “anh mà không bỏ nhà vài bữa lên thăm vườn, chừng anh lên được, vườn cây trái Lái Thiêu không còn xanh um như hồi nẳm nữa đâu!” Thành ra, tui mới lẹ lẹ đi lên trên đó mấy ngày, rồi mới thấy con nhỏ em tui nói có lý.

Trận chung kết Cúp Châu Âu năm 2000 giữa Pháp và Ý – nguồn Sportbible
Chị Sáu ơi,
Hồi đó, ông nội tui hay nhắc lời người xưa: “Nhật tân, hựu nhật tân.” Đừng nói gì cho xa xôi, chỉ cái việc làm ruộng thôi, tui thấy bây giờ cũng làm theo kiểu mới rồi chị Sáu à! Tỉ như làm nhiều mùa, trồng nhiều giống, bón nhiều loại phân, xịt nhiều loại thuốc sâu, chế biến nhiều cách cho lúa trúng mà thiệt tình khi tui ngồi suy đi nghĩ lại, cái tuổi thọ bây giờ ở dưới nhà quê không bằng hồi thời ông bà mình sạ lúa mùa nghe chị. Tui biết nói vậy là mình lạc hậu, nhưng không ai chối cãi được là thời đại bây giờ ít có người nào sống dai như hồi ông cố, ông sơ của mình.
Hồi đó, chị hỏi người lớn coi, đâu có ai chết vì chứng bị xơ gan, hay ung thư ung thiếc gì đâu. Còn bây giờ, quay qua quay lại là nghe người này đau, người kia bịnh những chứng bịnh kỳ cục không thuốc trị. Theo ý ngu của tui, tui nghĩ thời đại của mình nhiều bịnh ngặt tại vì nước mình uống là nước có thuốc sâu, gạo mình ăn là gạo có thuốc sâu, trái cây mình ăn là trái cây có thuốc sâu, tới ngọn rau cọng cỏ cũng có thuốc sâu dính vô thì làm sao cơ thể mình không bị nhiễm những chất độc hại? Phải vậy hông chị Sáu?
Cho nên, xã hội nào mà máy móc cơ khí phát triển mở mang, vật chất ở đó sung túc theo, nhưng chưa biết cái đạo lý có sung túc theo hay không còn tùy nghe chị Sáu, giống như tuổi thọ bây giờ ở miệt lúa thần nông so với tuổi thọ ngày xưa ở miệt làm lúa mùa vậy, hai cái nó khác nhau một trời một vực. Ngày trước thong dong bao nhiêu, ngày nay đầu bù tóc rối bấy nhiêu! Ngày trước người già râu bạc dài tới ngực, tới bụng, đi chân đất vù vù, còn ngày nay mới ngoài 50 tuổi mà sao trông thấy như ông già 70 có hơn.
Nhiều lúc nghĩ thì nghĩ vậy, nhưng hiểu thì không thấu hết cái lẽ trời đất chị Sáu à! Cho nên, chị bạn của chị có cái mơ ước là phải chi chị dìa bên này mở hãng xưởng để chỉ đi làm mướn đỡ khỏi bị người Đại Hàn hà hiếp. Nói vậy thì nghe vậy, chứ khi mà chị làm chủ hãng rồi, tui không biết cái tình bạn của chị với người bạn bất hạnh của chị có còn thân thiết như bây giờ hông?
Chuyện này thuộc về chuyện đời rồi chị Sáu à! Chuyện đời thường khó lường trước được! Như tía tui hồi trước khai mở đất lâm thành đất ruộng cũng bộn, bằng mồ hôi nước mắt của mình, rồi thời cuộc tản cư chạy giặc mới nhờ mấy đứa cháu dòm chừng giùm. Trong khi đó có nhiều người trong xóm không đất ruộng, chỉ sống bằng nghề cày thuê cấy mướn, tía tui thấy vậy thương tình cho họ mướn đất làm kiếm lúa nuôi con. Nhưng chị Sáu biết sao hông? Mấy người này mỗi ngày họ nói mình tử tế lắm, có phước đức lắm, đã cho vợ chồng con cái họ có miếng cơm ăn, manh áo mặc. Họ còn nói họ đội ơn mình cứu giúp họ đủ điều. Nhưng khi có cuộc đổi đời hoặc có “luật người cày có ruộng” ra đời, là họ lại quay mặt một cái vù hà chị Sáu à! Và tự nhiên như trên trời rớt xuống, họ bảo đất ruộng họ đang làm là của họ. Thế mới rõ nhân tình thế thái! Nào ai muối mặt, nào ai não lòng?!? Rồi cũng đến hồi tỏ rõ ráo trọi!?!
Chị Sáu ơi,
Nói chuyện đời hoài đâm ra làm chị buồn. Thôi tôi nói sơ sơ ba cái vụ thể thao cho vui chị à! Ở đây từ hồi ti vi tràn vô kinh xáng làm đảo lộn nếp sống bộn. Ngày thì ngủ, đêm lại thức trắng dã vì mấy trận banh. Hết cúp thế giới, tới cúp châu Âu châu iếc. Mấy đứa nhỏ mê mệt bỏ lúa bỏ thóc, mà già sọm như tui cũng mê. Xin chị cũng đừng cười chê tui, đâm ra tội nghiệp!
Ở nhà quê mà, ruộng rẫy quanh năm, hễ có dịp là mở tầm mắt ra chút xíu vậy. Hai ba tuần nay coi mấy trận banh cúp châu Âu gần thụt con mắt. Hôm 29 tây tháng 6 vừa rồi, đội banh nước Ý đá thắng đội Hòa Lan bằng những trái phạt đền với tỉ số 3-1 sau 90 phút chánh thức, cộng với 30 phút hai hiệp phụ mà không phân thắng bại. Như vậy, đội Ý kỳ này vô đá chung kết với đội banh nước Pháp vào Chúa Nhật trên sân Hòa Lan, tranh chức vô địch, thiệt là hấp dẫn nghe chị Sáu. Khi tui đang viết tới đây, thì đằng vàm Ba Bần, mấy đứa nhỏ chạy dìa kêu tui lại nhà ông Tám coi tiếp trận chung kết mới bắt đầu. Tôi lật đật xỏ đôi guốc vô đi coi màn chót này xem sao?
Trời thần ơi, cái nhà ông Tám bữa nay chật nứt, rần rần rồ rộ vui lắm chị Sáu ơi. Tui lọ mọ đi vô kiếm chỗ ngồi chăm chú theo dõi trận cầu mà mát con mắt. Gần hết 90 phút mà đội banh của Ý vẫn còn dẫn trước 1-0, bà con ai ai cũng hồi hộp đợi chờ trọng tài thổi tiếng tu huýt chấm dứt trận đấu. Nhưng có ai ngờ chị Sáu, khi còn nửa phút phù du nữa thôi, đội banh của nước Pháp lại đá lọt lưới của Ý, gỡ hoà 1-1. Cả nhà ông Tám Ba Bần như cái chợ bị bom, mọi người vỗ tay ầm ĩ. Tui già rồi nên hồi hộp quá, thành ra muốn đứng tim luôn. Thiệt cũng vì cái bịnh mê banh chị Sáu à!
Sau đó vô đá hai hiệp phụ và một lần nữa Pháp đá lọt lưới nước Ý, đoạt cúp vô địch Âu Châu một cách oai phong lẫm liệt, rạng danh một đội banh đương kim vô địch thế giới trong giải túc cầu thế giới năm 1998 mà hồi đó tui có viết thư cho chị. Chị còn nhớ hông? Thế mới rõ, câu nói “phước bất trùng lai” nhiều lúc không đúng phải hông chị Sáu?

Cây đuốc của Thế vận hội Sýt-Nây 2000- nguồn Sbs
Chị Sáu ơi,
Chẳng những tui mê mấy trận banh này quá mà bà con ai ai ở miệt kinh xáng này cũng mê ráo trọi. Nhưng ở nhà quê mê banh là mê thể thao thôi chị Sáu à! Chứ không như dân Sài Gòn hay các nơi thành thị khác như ngoài Hà Nội mà nhựt trình có đăng tin tức còn thêm cái nạn mê cá độ nữa. Mê banh mà thêm cái nạn ăn thua tiền bạc có khác gì cờ bạc đâu chị! Mà có cờ bạc là có nghèo sặc máu chứ chẳng phải chơi. Phải hông chị Sáu?
Sẵn nói vụ đá banh, tui kể tiếp chị nghe kỳ Ô-Lem-Pic sắp tới. Tui nghe đâu tháng Chín tây này, bên Úc bên iếc gì có Thế vận hội năm 2000 nữa chị à. Ngồi buồn, tui đọc mấy tờ nhật trình gói thuốc lá, tui thấy họ nói bên đó bắt đầu rước ngọn đuốc thế vận rồi. Hôm 8 tây tháng 6, có một chiếc máy bay của cái hãng An-sett, An-siết gì gì đó, đã đưa ngọn đuốc thế vận từ bên Tân Tây Lan đến núi đá U-Lu-Ru của Úc. Tại núi này, ngọn đuốc thiêng của Thế vận hội Sýt-Nây 2000 sẽ bắt đầu rước lòng vòng quanh nước Úc trong vòng một trăm ngày trước khi ngọn đuốc châm lên sáng rực trên bầu trời Sýt-Nây vào buổi lễ khai mạc Thế vận hội Mùa Hè được tổ chức ở đây đúng vào ngày 15 tây tháng 9 năm nay. Nghĩ tới đó tui vui quá chị Sáu. Ở kinh xáng Bốn Tổng này lại có dịp nhìn ra thế giới qua các trận so tài. Hồi còn sống, Tía tui cứ nói hoài: “thể thao mang người ta lại gần nhau.” Nghĩ chí lý lắm chị Sáu à!
Chị Sáu ơi,
Chị có biết đường dài của cuộc rước đuốc này bao xa hông? Chị đừng cười tui nghe. Cái anh Hai Trầu này ở nhà quê mà bày đặt hỏi tui cái câu dễ ụi, không sợ cái anh Luân Hồ Triệu quê quán ở Cây Mai, Cây Gõ đất Sài Gòn, bây giờ lưu lạc bên Úc Đại Lợi cười sao.
Không nói giấu gì chị, cũng nhờ tờ nhựt trình, nên tui mới biết đường dài của cuộc rước đuốc này nó xa tới hai mươi bảy ngàn cây số lận. Mà cơ khổ, đâu phải lúc nào người rước đuốc cũng đi khơi khơi trên mặt đất đâu chị. Có nhiều vùng người ta phải mang đuốc lên máy bay hoặc đi xe lửa hay lặn sâu dưới nước nữa, cũng như có lúc phải dùng lạc đà rước đuốc qua sa mạc. Công phu quá phải hông chị Sáu?
Còn ý nghĩa cây đuốc thế vận ở đây thì có hai màu trắng và xanh, tượng trưng cho vùng trời biển bao la ở biển Thái Bình này. Còn thân cây đuốc có ba lớp. Lớp trong cùng là thép bạc, hai lớp ngoài bằng nhôm, tượng trưng cho thủy, hoả, thổ. Chị Sáu thấy hông, tiến bộ như Úc, mà người ta không đi ra ngoài cái biến dịch của vũ trụ trời đất được, nói chi dân ruộng như tui. Nói thêm một chút nữa là cây đuốc này cao chừng bảy tấc hai phân tây và nó nặng gần một kí lô gờ ram chị Sáu à! Nhắc Thế vận hội bên Úc sắp khai mạc vào tháng Chín tây, tui mới sực nhớ chị hỏi tui có qua cây cầu Mỹ Thuận do Úc bắc chưa? Tui chưa đi qua đó lần nào chị Sáu à! Từ hôm đi Lái Thiêu hồi còn qua bến bắc cũ tới giờ tui chưa ra khỏi nhà nói gì đi đâu cho xa chị Sáu. Nhưng chỉ ngồi nghĩ thôi, là tui đã buồn rồi. Buồn cho những chiếc bắc một thời gầm gừ trên sông nước, buồn cho cảnh vật, buồn cho hàng quán vắng khách bộ hành, buồn cho bến nước một thời sung túc nay đành vắng ngắt! Thường thì được cái này, lại mất cái kia, biết sao bây giờ! Phải hông chị Sáu?
Chị Sáu ơi,
Viết lan man cho chị, dòm lại cái thơ bữa nay dài quá mạng. Tui xin ngừng ở đây và có lời thăm anh chị và mấy cháu mạnh giỏi. Độ này anh Sáu còn đi làm việc hay về hưu trí rồi chị Sáu. Còn tui bên này, nay tuổi đã già quá rồi nhưng biết bao giờ tui mới được hưu trí đây!?!
Cuối thơ,
Hai Trầu
(còn tiếp)









