Người Hoa trốn nạn bắt bớ của triều đình bản xứ di cư đến xứ ta cách nay hơn 200 năm. Qua bao thế hệ và các cuộc chỉnh đốn quốc tịch của chính quyền mỗi thời kỳ vì lợi ích quốc gia, đã không còn là người Hoa nữa. Người gốc Hoa hiện tại gần như đã bị đồng hoá với người Việt.

Đường Trịnh Hoài Đức Chợ Lớn, một trong những đường phố mua bán nhộn nhịp đầu thế kỷ 20 (Nguồn: Manhhaiflickr)   

Người Hoa làm chủ, kinh doanh thương mại

Nhà văn Sơn Nam viết trong Bến Nghé xưa: “Chợ Lớn là thuộc địa của người Hoa, đa số người Pháp ở Đông Dương đều nhìn nhận như thế. Chính quyền Pháp dung túng cho họ theo sinh hoạt riêng, ưu đãi hòng chia để trị; đúng ra là dựa vào thế lực, vào tổ chức, óc thực dụng của tư sản thương nghiệp và mại bản người Hoa để khống chế giới điền chủ Việt đang lúng túng và giới tư sản Việt đang trở mình”.

Bối cảnh lịch sử xã hội của người Hoa trong thời Pháp thuộc là thế. Họ có quyền, có thế lực, có tiền của và đầy rẫy sự kỳ thị với người Việt. Ngay cả những công việc lao động ở những công đoạn quan trọng trong sản xuất hàng hoá như thợ mộc, thợ hồ, thợ máy, thợ tiện… đều ưu tiên dành cho người Hoa. Người Việt đơn thuần làm những công việc khuân vác ở bến tàu, kéo xe, công nhân hãng xưởng, lao công dưới quyền điều khiển của cai thầu người Hoa. Việc buôn bán nhỏ lẻ cũng bị người Hoa thao túng, làm ăn theo phường hội với mục đích kềm hãm sự phát triển của tầng lớp dân nghèo.

Tôi có đọc bài tản văn Nước Tàu muôn thuở của nhà văn Bình Nguyên Lộc viết khoảng cuối thập niên 1950 khi Pháp đã rời khỏi Đông Dương. Ông nghe người bạn Pháp từ Paris mới sang Chợ Lớn trước khi Pháp đầu hàng, hãnh diện nói rằng: “Chúng tôi đã nhốt nước Tàu trong Chợ Lớn”. “Cứ nghe theo ông ấy, bạn vào Chợ Lớn sẽ thất vọng ngay vì không thấy nước Tàu đâu cả. Ngày nay lại càng không thấy hơn, vì người mình đã ở xen rất đông với người Trung Hoa từ lúc chiến tranh”.

Xem thêm:   Phải đâu miền đất hứa

Suy cho cùng, lời nói của ông bạn người Pháp mà nhà văn Bình Nguyên Lộc nhắc đến, là sự cường điệu một phần nào đó trong việc cai trị của người Pháp lúc đương thời. Bởi ý của Bình Nguyên Lộc là muốn nói đến nước Tàu muôn thuở theo nghĩa đen với bản sắc độc nhất vô nhị của nó, “chứ không phải lai căng mà trong đó người ta ăn vi cá mà uống Cỏ-nhắc (Cognac), không kể những tiểu thư mặc áo Thượng Hải mà nói tiếng Ăng-lê”.

Toà Thị Chánh thành phố Chợ Lớn đầu thế kỷ 20 (Nguồn: Manhhaiflickr)

Người Việt sống ở Chợ Lớn nhiều hơn người Hoa

Ý nghĩa đơn thuần của hình ảnh nước Tàu ở Chợ Lớn làm sao có được đây? Nhìn lại Chợ Lớn của những năm cuối thế kỷ 19, người Hoa sinh sống tại khu vực này có gần 42 ngàn người, trong khi đó người Việt sống lẫn lộn đến gấp đôi, đó là chưa kể 20 ngàn người sống bồng bềnh trên những chiếc ghe thương hồ ở các bến sông bến cảng. Người Việt đông hơn nhưng lại là những dân đen lao động tay chân nặng nhọc. Các trường học của người Tàu trong Chợ Lớn đều dạy tiếng Hoa, tiếng Pháp, nào có một ngôi trường thuần Việt của người xứ mình. Thế cho nên mới nói, Chợ Lớn là lãnh địa của người Hoa. Những sinh hoạt đời sống ít nhiều đã thay đổi với văn minh Âu Tây mà thực chất là của người Pháp. Ngoại trừ những ngôi chùa, cổ miếu còn mang hình ảnh của nước Tàu muôn thuở.

Hình ảnh nước Tàu trong tâm tưởng của Bình Nguyên Lộc là những khu vực ngoại vi của Chợ Lớn khi còn chưa phát triển thành đô thị. Chẳng hạn bến Bình Đông. “Khi qua khỏi 2 cây cầu sắt cao như nhà lầu, bạn sẽ có ảo tưởng rằng bạn đi du lịch ở đồng quê Trung Hoa. Những nông dân ở đây có bóng dáng kỳ lạ. Họ đội những chiếc nón mây có khoét lỗ ở giữa để lòi tóc ra nếu người đội là phụ nữ, và để lòi cái sọ trọc ra nếu người đó là đàn ông con trai. Họ gánh những thùng thiếc có gắn ống tre bên hông, tay đẩy nghiêng thùng, chân đi dài theo những vồng cải”.

Xem thêm:   2 người thợ săn

Khu vực Bình Đông nguyên là vùng đất làm rẫy chuyên trồng cải còn sót lại của một vùng đất rộng lớn gần kề đó do mở rộng đô thị kéo dài từ Sài Gòn đến Chợ Lớn đã hình thành từ xưa. Thời Pháp mới đến đã có con đường thiên lý đi về miền Tây. Ruộng rẫy khắp nơi, Chợ Rẫy là nơi tập trung buôn bán rau cải của người Hoa từ bao năm trước cho đến khi mảnh đất này trở thành bệnh viện Hôpital Municipal de Cholon (Bệnh viện thị xã Chợ Lớn) vào đầu thế kỷ 20 (Bệnh viện Chợ Rẫy ngày nay).

Hình ảnh nông thôn lọt giữa Sài Gòn Chợ Lớn đẹp như một bức tranh thôn dã hiền hoà của gần 200 năm trước, không có đấu tranh giành miếng cơm, tấm áo như những ngành nghề lao động khác của một đô thị tập trung dân cư. Những thị dân là những người Hoa, người Việt, người Miên sống trộn lẫn nhau, khác biệt về văn hoá, tập tục, khác biệt về ngôn ngữ. Nói là như vậy, nhưng con người sống ở đây vẫn buộc phải chịu sự ảnh hưởng ít nhiều, đặc biệt về ngôn ngữ bắt đầu pha loãng, hoà trộn nửa nạc nửa mở trong sinh hoạt hằng ngày.

Trở lại điều muốn nói, người Hoa đâu phải đến thời Pháp thuộc mới có được nhiều ưu đãi trong làm ăn kinh tế. Từ thời Hậu Lê cho đến gần nhất thời Gia Long, người Hoa được miễn lao dịch, không phải đóng thuế thân, cho phép dễ dàng làm ăn buôn bán, cho phép thành lập bang hội. Khi người Pháp vào Sài Gòn, họ vẫn tiếp tục nhận được những ưu đãi đó, thế lực Hoa kiều càng thêm mạnh. Và đâu chỉ ở Chợ Lớn, Sài Gòn là nơi làm ăn buôn bán thuận lợi ngay từ lúc ban đầu. Nhìn lại Sài Gòn vào đầu thế kỷ 20, có hơn 13 ngàn người Hoa tập trung xây nhà, cửa hiệu lớn nhỏ buôn bán hàng xuất nhập cảng, thậm chí tiệm ăn, tiệm chạp phô, quán mì hủ tiếu, cơm cũng đều là của người Hoa. Do vậy, người mình khi nhìn về người Hoa Sài Gòn Chợ Lớn nói riêng, người Hoa ở Việt Nam nói chung đều đánh giá, người Hoa giỏi làm ăn buôn bán.

Chợ cá của người Hoa Chợ Lớn ngày xưa (nay là Bưu điện quận 5) (Nguồn: Manhhaiflickr)

Giải pháp quốc tịch cho Hoa kiều

Xem thêm:   Đông dược

Nhìn lại giai đoạn đầu sau khi Pháp rút quân tại Đông Dương hay trước đó khi Pháp quay lại sau cuộc Cách mạng tháng Tám tại miền Bắc. Từ năm 1945, các bang hội người Tàu, trường học người Tàu bị giải tán. Ở miền Nam sau khi chia đôi đất nước năm 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm nhanh chóng thực thi chỉ dụ về Bộ Luật quốc tịch Việt Nam vào cuối năm 1955. Điều 12 ghi rõ: “Con chính thức, mà mẹ là người Việt Nam, và cha là người Trung Hoa, nếu sinh đẻ ở Việt Nam thì là người Việt Nam”. Vài tháng sau, Bộ luật Quốc tịch quy định thêm: “Hoa kiều sinh tại Việt Nam sẽ là người Việt Nam, bắt buộc phải khai nhận quốc tịch Việt Nam và làm căn cước, nếu không có thể xin hồi hương trước ngày 31/8/1957”.

Đây được xem là đòn giáng mạnh dứt khoát vấn đề quốc tịch của Hoa kiều của Thủ tướng Ngô Đình Diệm mà bấy lâu được hưởng quy chế ưu đãi trong kinh doanh. Ngoài ra các quyết định kèm theo bắt buộc các tên cơ sở thương mại, văn hoá, văn bản phải viết bằng tiếng Việt. Cũng như quy định các ngành nghề người ngoại quốc nói chung (trong đó có Hoa kiều không phải quốc tịch VN) không được hoạt động như: Buôn bán cá và thịt, tạp hoá, than củi, xăng dầu, cầm đồ, vải sồ, sắt thép, xay lúa, ngũ cốc, vận tải, môi giới. Tính tới thời điểm này, Chợ Lớn còn khoảng 2 ngàn người không nhập quốc tịch.

Người bạn lớn tuổi của tôi nhớ lại vào thời gian này, các văn phòng hành chánh của chính quyền ở khu vực Chợ Lớn đều có tấm bảng ghi chữ to để ngay cửa: “Người Việt phải nói tiếng Việt”. Bởi tuy hầu hết Hoa kiều đã nhập tịch VN, nhưng khi đi làm giấy tờ vào cơ quan công quyền đều xí xô tiếng Tàu. Ngày nay thì khác rồi, có người Hoa nào không nói và viết tiếng Việt. Người Việt đã hoàn toàn đồng hoá người Hoa tại Chợ Lớn nói riêng và cả nước nói chung.

Bến Lê Quang Liêm cách nay hơn trăm năm (Ảnh: Bưu thiếp)

TN