Bài nhạc vui “Tam nghiệp” nói về ông thợ nhuộm, thợ sửa khoá và ông thầy bói do nghệ sĩ Lữ Liên sáng tác cho ban AVT. Thật ra, bài hát này có nguồn gốc từ bài “Thất nghiệp”. Do không có việc làm mà sinh ra những nghề linh tinh để mưu sinh. Tôi nhớ lời bài hát kể riêng về ông thợ nhuộm như vầy: “Chuyên môn nhuộm đen… ứ…ư, chuyên môn nhuộm đen, tôi nhuộm quần nhuộm áo, có gì tôi nhuộm hết ráo, nhuộm cả cuộc đời, tính tính tang ơi tình đời. Nhuộm cả cuộc đời, vì đời bạc trắng như vôi ứ… ư… ừ…ư… ư!”.

Gánh nhuộm rong quần áo ngày xưa ở Sài Gòn (Nguồn: hinhanhlichsu.org)  

Không biết có ai còn nhớ hình ảnh ông thợ nhuộm quần áo dạo trong xóm nhỏ ngày xưa ở đất Sài Gòn? Hình ảnh này, trong đầu một đứa trẻ như tôi ngày ấy cho đến nay chẳng cũ chút nào, chẳng biến mất trong dòng chảy ký ức, thỉnh thoảng hiện về trong giấc chiêm bao. Ông Tàu đầu đội nón mây đan rộng vành, gánh đồ hàng làm nghề nhuộm quần áo rong thường đi ngang qua xóm. Ông có cái lưng hơi gù, nhô cao dưới lớp áo vải thô đen đã bạc màu theo năm tháng. Cứ mỗi khi nghe tiếng trống bỏi là biết ông thợ nhuộm đang đi vào xóm. Nhưng cả tháng nay, tôi chờ nghe tiếng long tong quen thuộc đó mà chẳng thấy!

Má tôi soạn mớ quần áo cũ chờ ông thợ nhuộm. Chẳng lẽ cuộc sống cơ cực của công việc này khiến ông bỏ nghề đi làm ông thầy bói cho nhẹ tấm thân? Tôi nghĩ thầm trong bụng: “Ừ, không nhuộm được quần áo càng tốt, thể nào trước ngày khai giảng năm học, khi không còn cách, má tôi sẽ phải mua quần sọt (short) mới cho anh em tụi tui thôi”. Má tôi, hai ba năm mới sắm áo trắng, quần sọt đồng phục mới cho đám con một lần. Thời buổi khó khăn, tiết kiệm một chút để dành tiền cuối năm may sắm đồ Tết. Chuyện chi tiêu trong gia đình về khoản quần áo, tôi vẫn thường nghe má tôi nhắc tới nhắc lui.

Nghĩ thì nghĩ vậy thôi, chứ chợt nghe tiếng long tong, long tong xuất hiện từ đầu hẻm, tôi liền từ trong nhà phóng ngay ra cửa rào chờ đón. Má tôi bưng thúng quần áo cũ bước ra, gọi ông già Tàu, rồi tiện miệng càm ràm: “Mấy đứa nhỏ chờ cả tháng nay để nhuộm mấy cái quần sọt mà chẳng thấy bóng dáng ông đâu!”. Ông già Tàu chậm rãi đặt quang gánh xuống sân đất trước nhà, kéo cái khăn đen vắt vai lau mồ hôi trên mặt: “Ngộ đi làm thợ nhuộm vải cho lò nhuộm ở gần nhà nhưng thời gian chủ hãng bó buộc quá, đành trở về với cái gánh hàng của ngộ cho xong”.

Ông thợ nhuộm bên vỉa hè đường phố Sài Gòn trước 1950 (Nguồn: Manhhaiflickr)

Ông vừa nói vừa lấy thanh củi tẩm dầu chẻ nhỏ để nhóm lửa đốt lò. Cái lò đốt của ông rất ngộ, không giống cái lò ông Táo trong bếp nhà tôi có ba chân, phía dưới có cái vỉ lò để muội tro rớt xuống. Cái lò của ông bốn chân vuông vức lại không có vỉ lò dùng để đốt củi. Cái nồi của ông cũng ngộ, không phải nồi tròn mà là nồi gang vuông, nằm gọn chắc chắn trong dây đai tre quang gánh. Trong lúc ông đốt lò, nhiệm vụ của tôi là chạy vào sau nhà xách ra cho ông xô nước lớn. Mỗi năm má tôi nhuộm quần áo chỉ có một lần nhưng mỗi lần như thế kéo dài cả mấy tiếng đồng hồ. Bà con chòm xóm, sẵn tiện mang vài ba mớ đồ cũ nhờ ông nhuộm mới.

Xem thêm:   Lịch sử của cách ly

Tự nhiên sân trước nhà tôi trở thành cái lò nhuộm chỉ có một người thợ, còn chủ thì có đến ba bốn người. Nước để nhuộm của nhà nào thì nhà đó tự xách ra trong cái thùng thiếc có thanh cầm bằng gỗ, quần áo cần nhuộm để gác ngang lên miệng thùng, chờ lần lượt tới phiên mình. Mấy bà rảnh việc, mang ghế đẩu ra ngồi coi ông ông thợ nhuộm. Hình ảnh đó, với tôi thuở ấy rất vui, vui nhất là nghe ông Tàu kể những chuyện hỷ nộ trong xóm nhỏ của ông ở quận 11, nơi có nhiều người Việt lẫn người Hoa chung sống. Những người sống trong xóm của ông đa phần đều là dân nghèo, làm công cho các lò nhuộm hoặc mua bán ve chai. Có lần tôi hỏi ông: “Sao ông không đi nhuộm đồ quanh quận nhà cho đỡ cực công mà phải sang quận 10, gánh chi cho cho xa. Ðường xa cái bánh đa cũng nặng mà”. Ông thủng thẳng trả lời với thứ giọng lơ lớ: “Nị còn nhỏ không hiểu chuyện đâu. Cái nghề này nó phải vậy, cả năm người ta mới nhuộm quần áo một lần, phải chịu khó đi xa, len lỏi vào mấy hẻm nhỏ thì mới có khách”.

Nhìn đôi giày nhựa dưới đôi bàn chân to bẹt của ông mòn nhẵn đế, dính đầy vết dơ bùn đất, lòng tôi chợt nổi lên sự thương cảm tấm thân cơ cực của cái nghề nhuộm quần áo rong trong xóm. Nhưng, lòng thương cảm của tôi cũng thoáng qua như cơn gió thoảng, nhanh chóng nhường lại cho sự háo hức khi trông thấy những cái quần sọt chìm trong thùng thuốc nhuộm màu xanh sẫm sôi sùng sục. Bấy giờ, ông Tàu mới dùng hai chiếc đũa tre to dài, mặt bản thuôn rộng bốn năm cen-ti-mét, chèo nhúng mấy cái quần đượm màu xanh mới. Ông cầm hai thanh đũa khéo léo móc cái lưng quần và ống quần xoắn vặn vào nhau vắt chặt không còn miếng nước, xong rồi để riêng qua chiếc chậu gỗ. Ông làm từng cái như vậy, rồi lại lấy đũa nhấc từng chiếc quần bỏ vào thùng thuốc nhuộm đảo qua một lần nữa để thuốc nhuộm ăn vải cho đều. Hai tay ông cầm đũa chèo vắt rất thành thục, chẳng làm nước nhuộm rơi vãi ra sân đất chút nào.

Nghề nhuộm rong đến đầu thập niên 1980 vẫn còn hoạt động (Nguồn: Internet)

Sau khi nhuộm xong mấy chiếc quần của tụi tui, ông vắt khô thành lọn bỏ vô chiếc thau nhôm tôi mang ra để sẵn, dặn dò má tôi đem ngâm nước lạnh vài tiếng đồng hồ rồi hãy xả cho đến khi nào không còn ra màu mới đem phơi. Làm như vậy khi giặt đồ chung mới không bị lem màu nhuộm.

Xem thêm:   Cà phê có ở Mỹ lúc nào?

Ông Tàu bưng thùng nước nhuộm đem đi đổ xuống lỗ cống gần đó. Lúc này, tôi mới để ý tới màu thuốc nhuộm đựng trong mấy lon sữa Guigoz mà ông xếp ngăn nắp trong cái thùng gỗ dưới chiếc chậu gỗ ở quang gánh bên kia. Ông lấy một chiếc hộp trên nắp có dán một tấm giấy ghi chữ bằng tiếng Tàu mà tôi đoán là “đen”, bởi ông đang bắt nước sôi để nhuộm mấy chiếc quần lãnh Mỹ A của má tôi. Cái mùi thuốc nhuộm hăng hắc cho dù đó là màu xanh, màu đen, hay màu chàm (nâu) đều có mùi giống nhau. Bác Hai nhà đối diện khi xưa ở Tân Châu, vùng đất làm ra thứ vải lãnh mà bất kỳ các bà các cô ai nấy cũng đều thích. Bác Hai phân trần thuốc nhuộm đen bằng trái mặc nưa hồi trước không nặng mùi hắc. Tôi nghĩ, có lẽ thuốc nhuộm của ông già Tàu là hoá chất, chỉ có các lò nhuộm ngày xưa sử dụng thuốc nhuộm chế từ các loại thực vật trong thiên nhiên. Thuở tôi còn nhỏ, các lò nhuộm vải ở Sài Gòn đã sử dụng thuốc nhuộm hoá chất rồi.

Trái mặc nưa ra sao? Sau này ra đời, đi đây đi đó rong chơi mới biết thêm nhiều chuyện. Có lần tôi về Tân Châu sống mấy ngày cùng với người thợ dệt tơ tằm cho ra những tấm lãnh đem nhuộm với nước nấu từ trái mặc nưa xay nhuyễn để trở thành thứ vải lãnh Mỹ A đen tuyền nổi tiếng ở miền Nam. Không những thế, tôi còn được người quen ở Châu Ðốc giới thiệu củ nâu đào ở trong rừng. Củ nâu to hơn củ khoai tím nhiều, trong Nam có nhưng không nhiều. Nhiều nhất ở miền Trung những vùng rừng núi nắng nóng. Củ nâu đào lên để càng lâu càng tốt, nhuộm màu ít phai, thường bày bán ở các chợ phiên. “Nước giếng vàng vừa trong vừa mát / Nâu chợ Chùa nhuộm lạt lâu phai…” (Thơ của Trần Hữu Thưởng). Có lẽ vì thế người nhà quê miền Trung thường hay thích màu chàm. Trong khi người miền quê của đất phương Nam lại kết màu đen. Tất nhiên, thuốc nhuộm màu xanh dương, đỏ, tím, vàng hay các màu khác nữa không phải là không chiết xuất được từ các loại vỏ cây, trái hay lá cây nào đó. Chỉ có điều giá thành cao, trong khi nguyên liệu thiên nhiên ngày càng khan hiếm. Màu nhuộm hoá chất ra đời để giải quyết khó khăn cho ngành dệt nhuộm.

Trái mặc nưa có nhiều ở vùng Châu Đốc dùng để nhuộm đen vải (Nguồn: Internet)

Nói đến thuốc nhuộm hoá chất làm gì, bởi dân xóm tôi hay má tôi chẳng thèm quan tâm đến chuyện này. Biết là thuốc nhuộm là đủ, miễn nhuộm xong, quần áo giặt phơi ít bạc màu là thích. Nhìn mấy lon thuốc nhuộm của ông già Tàu, chỉ có ba màu đen, nâu, xanh chứ không có màu khác. Lỡ người ta muốn nhuộm màu trắng thì sao? Tự dưng tôi buột miệng. Không biết ông già có nghe không mà ổng chăm chú vắt kiệt nước mấy cái quần lĩnh đen thui. Bác Hai đang ngồi trên ghế đẩu, miệng nhai trầu chóp chép, tức cười văng cả bã trầu đỏ tươi ra sân đất: “Cái thằng này, làm gì có thuốc nhuộm màu trắng mậy! May ra chỉ có thuốc tẩy thôi con”. Ừ há! Nếu có thì ông thợ nhuộm chẳng phải nên nhuộm tươi cuộc đời của mình rồi sao, cớ gì “chuyên môn nhuộm đen, tôi nhuộm quần nhuộm áo, có gì tôi nhuộm hết ráo, nhuộm cả cuộc đời…”.

Xem thêm:   Một Người Việt Tên Dang

Ngày nay, cái nghề nhuộm quần áo rong trong xóm không còn thấy nữa. Nhưng cứ mỗi lần nghe tiếng trống bỏi đồ chơi của mấy đứa cháu nhỏ thì tôi lại nhớ đến hình ảnh ông già gù, vai trĩu nặng đôi quang gánh với tiếng trống long tong.

TN