Đến bến Bình Đông, chịu khó thả bộ tà tà vào cuối đường ra mé rạch Chợ Lớn ta sẽ thấy nhiều ghe bầu và đò con chen chúc. Hình ảnh trên bến dưới thuyền buôn bán ồn ào, tiếng quát tháo chói tai của giới thương hồ chợ búa hiện ra một cách sinh động.

Ghe thương hồ khắp nơi trên bến Bình Đông (Ảnh: LIFE) 

Ðó là chuyện cách nay hơn 30 năm. Có lẽ, cuộc sống thời đó còn nhiều khó khăn dễ làm người ta bị căng thẳng. Tâm tính con người thay đổi theo môi trường sống, người ta dễ sinh tính ích kỷ và nổi nóng hơn khi giải quyết một vấn đề dù nhỏ nhặt. Nó không lãng mạn đằm thắm tình người như những câu chuyện ngày xửa ngày xưa trong “Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc” mà lần gặp nhà văn Sơn Nam ở Nhà Văn Hóa quận Gò Vấp mang tặng cho tôi. Ông già Nam kỳ nói rằng, sách của ông viết theo thể loại hồi ký lịch sử, giới trẻ đọc không mặn mà. Sách của cha này (Bình Nguyên Lộc) tuy lớn tuổi hơn tui nhưng ổng có lối viết trẻ trung phóng túng.

Và có lần tôi làm “gã lang thang”, bắt đầu từ những vựa chành bán gạo và các loại đậu dọc theo bến Mễ Cốc bên quận 8. Nơi này gần như là một ốc đảo, ngay từ trước năm 1975, quanh năm nhiều nơi ngập nước mỗi khi triều cường. Triều cường lại gặp trời mưa thì coi như khu vực này biến thành biển nước. Bà con sống ở đây muốn ra chợ phải chống xuồng như đi chợ nổi. Ðầu thập niên 80 của thế kỷ trước, vùng đất ven rạch Lò Gốm, người ta còn trồng rau muống và có nhiều nơi cỏ năn mọc đầy như vùng đất hoang sơ từ trăm năm trước.

Một lần đi thăm người bạn thời đi học, bạn chỉ đường: Ðến bến Mễ Cốc hỏi số nhà người ta chỉ cho. Tôi đi theo hướng dẫn. Hỏi ra đúng bến Mễ Cốc nhưng chẳng có số nhà nào như bạn chỉ. Thì ra đường Bến Mễ Cốc dài đến tận ngã ba kênh Ðôi, giáp vàm rạch Lò Gốm. Còn cái số nhà của bạn ở bên kia, muốn sang phải đi đò.

Thăm bạn xong, tôi ngược về hướng Ðông theo đường bờ kênh đến bến Bình Ðông, nhưng không phải chỉ một bến bãi mà là cả một khu vực rộng lớn. Khu vực này sầm uất và khang trang hơn nhiều so với những nhà sàn mái tôn vách gỗ bên rạch Lò Gốm. Một bên là những ngôi nhà gạch mái ngói tây, hai tầng cổ xưa có lan can sắt trang trí hoa văn, mang kiến trúc nửa Tàu nửa Tây theo kiểu thuộc địa ở Hồng Kông, Penang hay Singapore trông hài hòa một cách lạ lùng, chạy dọc trên kênh Chợ Lớn (quai Gaudot) nơi có các trụ sở thương mại, nhà máy. Cũng có đoạn nhà cửa của người Việt, xây nhiều kiểu khác nhau. Bên phía bờ kia san sát nhà máy xay xát lúa gạo, chế biến bột sắn, bột gạo, chành vựa chứa hàng.

Xem thêm:   Bánh mì sandwich Việt Nam

Xuống gần tới quận 4 dọc theo bờ kênh còn có nhiều nhà máy hoạt động, kho hàng rất lớn. Bức tranh kinh tế Chợ Lớn hiện ra trước mắt cho thấy một thời thịnh vượng của khu vực Bình Ðông trong việc sản xuất hàng hóa, mua bán lúa gạo xuất cảng trong suốt giai đoạn lịch sử phát triển đô thành Sài Gòn đến tận năm 1975.

Nhà máy xay xát lúa gạo của người Hoa bên bến Bình Đông thập niên 1930 (Nguồn: Manhhaiflickr)

Theo bài khảo luận của tác giả Nguyễn Ðức Hiệp về kinh tế của Chợ Lớn như sau: “Từ khi Pháp đánh chiếm Saigon năm 1861, cảng Saigon trở thành cảng mở, buôn bán tự do. Thương mại của người Hoa bộc phát, và sau khi các tỉnh miền Ðông và Tây hoàn toàn thuộc Pháp, tư bản Pháp và thương gia người Hoa cạnh tranh và nắm hầu như toàn bộ kinh tế Nam kỳ. Với dân số gia tăng ở Trung quốc, Hồng Kông, Nhật và sự di dân từ nam Trung quốc, Ấn Ðộ đến Singapore, Mã Lai thành lập phát triển các đô thị mới vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, tất cả các nơi này đều có nhu cầu lương thực, nhất là gạo để đáp ứng nhân sự gia tăng. Gạo xuất cảng từ Siam (Thái Lan), Miến Ðiện (Burma nay gọi là Myanmar) và Nam kỳ đã đáp ứng được nhu cầu này. Ðiều này cho thấy sự phát triển kinh tế ở nhiều nơi ở Ðông Nam Á trong thời kỳ này một phần cũng nhờ vào kho vựa lúa ở Nam kỳ.

Năm 1885, ở Saigon-Chợ Lớn có các nhà máy xay lúa do người Pháp làm chủ dọc rạch bến Nghé và kênh Tàu Hủ: nhà máy Khánh Hội, nhà máy Chợ Lớn của công ty Rizerie à Vapeur (ông Calhuzac đại diện quản lý) và nhà máy của công ty Rizerie Saigonnaise (do công ty anh em Denis, Denis frères quản lý). Ngoài ra, còn có rất nhiều cơ sở nhỏ buôn bán lúa gạo và xay lúa do người Hoa và người Việt làm chủ trong vùng Saigon-Chợ Lớn, mà chủ yếu là tập trung dọc trên các bến Quai de Gaudot (nay là đường Hải Thượng Lãn Ông), quai de commerce (bến Bạch Ðằng, Chương Dương), quai de My Tho (bến Trần Văn Kiểu), quai des Jonques (bến Bình Ðông)”.

Xem thêm:   VNPC & chuyến săn ảnh cuối thu

Bến Bình Ðông đông đúc ghe chài, ghe bầu đậu dọc theo bờ kênh cả vài cây số. Giới thương hồ từ miền lục tỉnh chở lúa gạo, nông sản lên Sài Gòn nhập vào chành kho cho thương giới người Hoa. Cuộc sống sông nước ngày đêm trên bến, tự nhiên ghe đò trở thành những ngôi nhà bồng bềnh.

Theo Bến Nghé xưa, nhà văn Sơn Nam ghi nhận, hồi năm 1940, Sài Gòn – Chợ Lớn có gần nửa triệu người sinh sống (bao gồm người Pháp, Hoa, Việt), trong đó người “bồng bềnh” có khoảng hai chục ngàn người không cố định. Dân thương hồ rày đây mai đó, theo những chuyến hàng về bến. Không ít người dân quê theo ghe vác mướn đã nán lại bờ kênh, cắm dùi dựng lều mưu sinh lần hồi trở thành người Sài Gòn.

Bến Bình Đông và các nhà máy xay lúa nhìn từ không ảnh năm 1930 (Nguồn: Manhhaiflickr)

Ngoài phương tiện ghe bầu, ghe chài vận chuyển hàng hóa, Sài Gòn thuở trăm năm trước đã phát triển các loại tàu khách đi nước ngoài và tàu khách đường thủy đi các tỉnh Nam kỳ, ngược sông Tiền đến tận Nam Vang. Người Pháp khai thác các tuyến tàu biển đi tận Hồng Kông hoặc Singapore; trong khi đó, người Hoa khai thác các tuyến tàu sông; người Việt không vốn, làm ăn nhỏ lẻ bằng cách đưa đò ngang bến Thủ Thiêm hay vài nơi khác trong khu Chợ Lớn. Người có chút tiền hùn nhau mở công ty vận tải đường sông nhưng luôn bị ghe tàu của người Hoa chèn ép, cạnh tranh bằng nhiều thủ đoạn mà người Việt chỉ biết kêu trời, chẳng biết vác chiếu đi kiện ai.

Xem thêm:   Cứu Cánh & Phương Tiện

Cũng trong Bến Nghé xưa, nhà văn Sơn Nam dẫn chứng từ báo Lục tỉnh Tân Văn số 29 ra ngày 4/6/1908 đăng bài “Khổ vô sở tố”, lên án thái độ hống hách của tư sản người Hoa: “Tàu của chúng đụng ghe người Việt thì bỏ chạy luôn, người bị chìm ghe trèo lên tàu lại bị đánh, đạp xuống sông. Tàu chạy bất tuân luật lệ giao thông, ghe người Việt chạy buồm gần thì chúng vác củi (củi chụm nồi hơi nước) mà liệng qua rồi dùng sào đánh đập người coi lái ghe. Chúng làm chuyện sát nhơn, có bọn quan lại ăn hối lộ bao che”.

Chuyện ngày xưa trong nước có khác gì chuyện ngày nay “tàu lạ” đâm sầm vào tàu gỗ của ngư dân trên biển. Cũng ngày nay, tôi từng thấy cảnh dân thương hồ tranh giành chửi bới nhau trên rạch Chợ Lớn năm nào, có khác gì cảnh bến đò ở Cầu Quay Khánh Hội của thế kỷ trước mà ông Nguyễn Liên Phong đã viết trong bài Nam kỳ phong tục diễn ca: “… Ðò dọc rước mối xuống lên / Giành nhau xâu xé rền vang cả ngày / Ghe bầu sắp lớp đậu ngay / Trong cầu Khánh Hội nối dài đôi dây…”.

Nhiều người bảo cuộc sống là phải tranh giành. Có như thế nó mới sinh động. Nhưng thôi đụng chạm đến con người chỉ thêm đau bụng nhức đầu. Thà như “gã lang thang” Bình Nguyên Lộc nhìn cảnh rạch Bến Nghé, viết rằng: “Có ai nhìn đám ghe thương hồ ấy chưa, nhứt là vào lúc chiều tối khi các hoạt động kinh tế đã chấm dứt. Một người bạn ghe nào đó, không tiền đi hưởng các cuộc vui của thành phố tưng bừng, ngồi trong khoang thuyền gảy nhẹ chiếc độc huyền và cất giọng nói thơ”.

Cuộc sống lần hồi thay đổi, bờ bãi hóa nương dâu theo quy luật phát triển tự nhiên. Sự đổi thay có thể làm bạn khắc khoải ưu tư cho những công trình mang tính văn hóa tồn tại hàng trăm năm trước. Nó như một gạch nối từ quá khứ đến hiện tại và tương lai, cắt bỏ gạch nối đó ta sẽ đánh mất tất cả giá trị tiêu biểu văn hóa của một vùng. May thay, dấu ấn của những ngôi nhà mang hình dáng kiến trúc kiểu thuộc địa của người Hoa vẫn tồn tại bên bến Bình Ðông.

TN