Tuyên truyền của phía chiến thắng tràn ngập youtube với vô vàn các video ngụy tạo nhằm bôi nhọ Quân đội Quốc gia. Phát thanh cũng qua Youtube, trang Ký Sử 1975 cho cách nhìn trung tính hơn về nội chiến. Người xưa không lấy thành bại để luận anh hùng nhưng trọng lòng quả cảm lúc sống và lúc chết. Tiêu chuẩn đó vẫn đúng cho các quả phụ của những sĩ quan đã tuẫn tiết, vì bằng nghị lực phi thường, họ đã giữ tiết tháo của chồng mình không hoen ố. Câu chuyện đời bà quả phụ Phan Thị Minh Yến, tự thân là một tấm gương.
Chép lại từ bản thu âm phát thanh trên youtube dưới tựa “Chồng Tuẫn Tiết ở Lai Khê, Vợ Ôm 4 Con Sang Mỹ và Từ Chối Mọi Vinh Danh”, tôi chọn thay tựa, vì quá dài, bằng tựa “Chiếc rương gỗ mang từ Hải Phòng”. Vì gia đình cô Phan Thị Minh Yến khi di cư từ Hải Phòng mang theo chiếc rương gỗ chứa những gì quý giá nhất và gìn giữ cho đến cuối tháng 4-75. Nếu Phan Thị Minh Yến buộc phải rời Sàigòn không thể mang theo vì quá nặng, chiếc rương đó hiện diện trong suốt đời bà. Nếu bà đành bỏ lại hòm gỗ, bà đã mang theo được những gì trân quý cất giữ bên trong.
Trang Ký Sử 1975 ẩn danh, không nêu tên người viết thoại và đọc, nhưng là một văn bản thu thanh hoàn chỉnh.
[Trần Vũ]
4 kỳ – kỳ 2
Khu Gia binh
Những năm giữa thập niên 60, ngôi nhà của họ đông và ồn. Một đứa trẻ cách nhau chỉ vài tuổi, đứa này chưa dứt sữa thì đứa kia đã biết đi. Người mẹ trẻ mới ngoài 20 tuổi xoay như chong chóng từ sáng đến tối. Cô tắm cho con giặt giũ nấu nướng, dỗ đứa này ngủ rồi quay sang cho đứa kia bú. Hàng xóm trong khu gia binh giúp nhau trông con hộ nhau, chia nhau từng chậu nước. Mà trong tất cả những ngày như thế, người cha thường xuyên không có mặt. Ông đi hành quân biền biệt đêm ngày. Có những đợt ông đi vài tuần, có những đợt lâu hơn nhiều. Các con lớn lên chủ yếu bên mẹ, bám lấy mẹ, xem mẹ là chỗ dựa duy nhất trong tầm tay. Nhưng hình ảnh người cha mặc quân phục vẫn là một điểm tựa tinh thần rất mạnh cho cả năm mẹ con. Ông không có mặt hàng ngày, song ông luôn có mặt trong cách người mẹ nói về ông với các con. Những lần ông về phép là những ngày hội nhỏ trong ngôi nhà ấy. Giữa những lần ấy, đời mẹ phải tự giữ cho hình bóng người cha khỏi mờ đi trong trí nhớ lũ trẻ. Cô kể cho các con nghe bố đang làm gì, bố đóng quân ở đâu, bố dặn các con điều gì. Cô nhắc tên bố trong bữa cơm trong lúc dỗ con ngủ trong những ngày lễ. Nhờ vậy dù người cha vắng mặt gần như quanh năm, ông vẫn hiện diện trong ngôi nhà đó mỗi ngày. Đó là công việc thầm lặng mà rất nhiều người vợ lính thời ấy cùng làm và không ai ghi công cho họ. Trong khu gia binh, chiếc radio là vật được canh chừng nhiều nhất. Buổi tối, các bà vợ tụ lại vặn nhỏ tiếng nghe tin chiến sự. Người ta lắng nghe không phải để biết cục diện mà để dò xem cái tên đơn vị của chồng mình có được nhắc tới hay không. Nếu không nhắc mọi người thở ra, nếu có nhắc cả xóm im lặng rồi có người lặng lẽ đứng dậy ra về. Đêm đó trong dãy nhà vách mỏng ấy sẽ có vài ngọn đèn không tắt cho đến sáng.
Người vợ trẻ ngồi giữa những người đàn bà như thế và cô hiểu mình không được phép khóc trước. Ngày Tết là dịp hiếm hoi, cả nhà cố gắng đủ mặt. Có năm chồng về được, có năm thì không. Những năm chồng về, ông mang quà cho từng đứa con.
Thứ quà đơn giản mua vội ở đâu đó dọc đường. Bọn trẻ giành nhau cãi nhau rồi cười ầm lên. Đời mẹ đứng nhìn cảnh ấy từ trong bếp, tay còn dính bột và cô ghi nhớ lấy nó thật kỹ. Một buổi chiều khi ông về phép, trẻ con nghe tiếng xe là chạy ùa ra cổng. Người cha bước vào người còn mùi nắng và bụi đường, quân phục bạc màu ở vai. Ông bế đứa út lên xoa đầu 3 thằng con trai hỏi từng đứa việc học hành. Bữa cơm hôm đó có thêm món mặn. Người vợ ngồi đầu bàn vừa gắp thức ăn cho con vừa nhìn chồng và trong lòng biết rất rõ rằng những ngày này rất ngắn. Sau bữa cơm, ông thường đứng lại một lúc trước tấm ảnh cưới treo trên tường. Nó là những năm hạnh phúc nhất của gia đình. Dù hạnh phúc ấy luôn bị cắt vụn thành từng khúc ngắn. Người ta hay nghĩ hạnh phúc phải là một chuỗi ngày dài yên ổn. Với vợ chồng họ, hạnh phúc là mấy? Ngày phép là một bữa cơm đủ mặt là tiếng cười của 4 đứa trẻ trong căn nhà vách mỏng. Họ không có nhiều thời gian bên nhau nên họ dùng rất kỹ từng khoảnh khắc có được. 10 năm hôn nhân của họ cộng lại có lẽ chỉ được vài trăm ngày sống chung dưới một mái nhà. Ở khu gia binh, người ta không nói nhiều về tương lai. Không ai lên kế hoạch cho năm sau, không ai hứa hẹn ngày nào sẽ đi đâu làm gì. Mọi câu chuyện đều dừng ở tuần này tháng sau. Đó là cách những gia đình lính tự bảo vệ mình khỏi những điều họ không kiểm soát được. Người vợ trẻ ấy cũng dần học được cách không hỏi ngày về.
Nhưng có một điều cô để ý thấy và cô giữ riêng cho mình. Mỗi lần đơn vị của chồng được điều đến một địa danh mà cô chưa từng nghe tên thì chỉ ít lâu sau đúng cái tên ấy lại xuất hiện trên báo. Lần đầu cô nghĩ là trùng hợp. Lần thứ hai cô bắt đầu ngờ ngợ. Đến lần thứ ba thì cô hiểu ra quy luật. Và từ đó mỗi khi nghe chồng nhắc một cái tên lạ cô lại thấy trong ngực mình có gì đó thắt lại. Mùa hè năm 1972 ông nhắc đến một cái tên như thế. Cái tên ấy chỉ có hai chữ nghe hiền lành, gần như một thị trấn buồn ngủ nào đó ở miền Đông. Cô hỏi lại cho rõ và ông nhắc lại một lần nữa rất bình thản rồi chuyển sang chuyện khác. An Lộc.

An Lộc mùa hè năm 1972
Thị xã nhỏ ấy bị vây kín trong nhiều tháng liền. Mùa hè năm đó, cả miền Nam nín thở nhìn về một điểm trên bản đồ. An Lộc là tỉnh lỵ của Bình Long cách Sài Gòn chưa tới 100 cây số về phía Bắc. Khi vòng vây khép lại, thị xã bị pháo kích ngày này qua ngày khác. Đường bộ bị cắt, chỉ còn trông vào những chuyến thả dù, người trong đó không rút ra được, người ngoài không vào được. Trong căn cứ chỉ huy giữa thị xã, có một số sĩ quan cao cấp ở lại cùng binh sĩ và một trong số đó là chồng của bà Yến. Ông là người của Sư đoàn 5 Bộ binh, đơn vị giữ mặt trận này cùng các lực lượng tăng viện.
Tư lệnh sư đoàn khi ấy là tướng Lê Văn Hưng, hai người cùng ở lại trong hầm chỉ huy suốt những ngày ác liệt nhất. Về sau, những người có mặt kể lại rằng tướng Hưng đã cầm sẵn một trái lựu đạn trong tay. Ý định của ông rất rõ ràng, nếu đối phương tràn được vào hầm, tất cả sẽ cùng chết ở đó. Đó là bầu không khí mà chồng bà đã sống trong nhiều tuần lễ liền. Ở Sài Gòn, người vợ chỉ biết những gì báo chí đăng. Mỗi sáng, bà mua một tờ báo và mở ngay ra ở trang trong. Bà không đọc từ đầu như người ta vẫn đọc. Bà tìm hai chữ An Lộc trước rồi mới đọc phần còn lại. Những tin tức thời ấy viết bằng thứ ngôn ngữ chừng mực, nhiều con số, ít chi tiết. Nhưng có những chữ mà người vợ lính nào cũng biết cách giải mã “cầm cự, tổn thất, phòng tuyến co lại”… Bà đọc xong gấp báo lại thật phẳng, rồi cất vào ngăn dưới cùng của chiếc rương gỗ. Buổi tối, chiếc radio trong khu gia binh lại được vặn nhỏ tiếng như mọi năm.
Nhưng mùa hè năm ấy khác hẳn. Không ai còn thở phào sau bản tin nữa vì bản tin nào cũng nhắc đến An Lộc.
Những người đàn bà ngồi quanh chiếc radio đều biết chồng mình đang ở trong hoặc quanh vòng vây đó. Họ không hỏi nhau câu nào, họ chỉ ngồi nghe hết bản tin rồi ai về nhà nấy. Trong ngôi nhà của bà Yến khi ấy có 4 đứa trẻ, đứa lớn nhất mới 7 tuổi. Bọn trẻ chỉ biết bố đi vắng lâu hơn thường lệ. Chúng vẫn đi học, vẫn cãi nhau, vẫn đòi mẹ mua quà. Người mẹ vẫn nấu cơm, vẫn giặt giũ, vẫn kể chuyện bố cho các con nghe trước giờ ngủ. Ban ngày, bà giữ đúng nhịp sinh hoạt như cũ, không để lộ ra điều gì. Chỉ đến khi cả nhà đã ngủ, bà mới ngồi lại một mình bên ngọn đèn. Trên tường, tấm ảnh cưới vẫn treo ở chỗ cũ và người đàn ông trong ảnh vẫn nhìn thẳng. Có một điều mà những gia đình lính hiểu rõ hơn ai hết trong chiến tranh, tin dữ không đến bằng điện thoại. Tin dữ đến bằng một chiếc xe đỗ trước cửa và bằng những người mặc quân phục bước xuống. Suốt mùa hè năm đó, mỗi lần nghe tiếng xe chạy chậm lại ngoài đầu ngõ, tim bà lại hẫng đi một nhịp. Bà đứng dậy đi ra cửa nhìn rồi quay vào. Ngày này qua ngày khác, chiếc xe ấy chạy qua nhà bà mà không dừng. Vòng vây An Lộc kéo dài nhiều tháng trước khi được giải tỏa.
Sài Gòn sau khi mặt trận lắng xuống
Khi tin chiến thắng được loan đi, cả thủ đô nói về An Lộc như một biểu tượng. Người ta nhắc đến những đơn vị đã giữ được thị xã đến những sĩ quan không rời hầm chỉ huy. Tên chồng bà nằm trong số những người được nhắc tới. Sau đó ông được đề bạt làm tư lệnh phó của một sư đoàn khác là Sư đoàn 21 Bộ binh ở miền Tây. Còn với người vợ chiến thắng ấy chỉ có một ý nghĩa duy nhất. Chồng bà còn sống và ông sắp về nhà. Ngày ông bước vào cửa, bọn trẻ ùa ra như mọi lần. Người mẹ đứng lại phía sau nhìn chồng từ đầu đến chân. Ông gầy đi rất nhiều, da sạm lại, quân phục rộng ra ở vai. Nhưng ánh mắt thì vẫn thế. vẫn nhìn thẳng như trong tấm ảnh chụp 8 năm trước. Bữa cơm hôm đó ông ăn ít và nói còn ít hơn. Người trở về từ một nơi như An Lộc thì thường mang theo những thứ không kể ra được. Ông không kể chuyện hầm chỉ huy, không kể chuyện pháo, không kể chuyện những người đã nằm lại. Ông hỏi chuyện học hành của 4 đứa con, hỏi chuyện chợ búa, hỏi tiền nong trong nhà có đủ không? Rồi ông ra ngồi ngoài hiên rất lâu một mình. Cho đến khi trời tối hẳn, người vợ để ông ngồi đó không hỏi han gì. Bà đã học được điều ấy từ nhiều năm trước. Sáng hôm sau, bà lấy tờ báo ra khỏi rương và đưa cho ông xem. Trong đó có một tấm hình chụp những người lính giữ An Lộc. Ông cầm tờ báo nhìn qua rồi đặt xuống bàn. Ông không nói gì về tấm hình, chỉ có một chi tiết nhỏ mà bà nhớ mãi. Trước khi đứng dậy, ông vuốt lại cho tờ báo nhăn kia phẳng ra cẩn thận như đang xếp lại một thứ quan trọng. Từ hôm đó, xấp báo cất trong chiếc rương gỗ bắt đầu dày lên. Miền Tây những tháng sau đó, ở nhiệm sở mới, đời sống gia đình dễ thở hơn hẳn. Miền Tây yên hơn miền Đông. Ông về nhà đều hơn, ăn cơm với vợ con nhiều hơn. Bọn trẻ bắt đầu quen với việc buổi tối có bố ngồi ở đầu bàn. Người vợ nhìn cảnh ấy và cho phép mình nghĩ đến một điều mà bà đã không dám nghĩ suốt 10 năm. Bà nghĩ rằng có lẽ những năm sắp tới sẽ yên ổn hơn. Suy nghĩ đó tồn tại chưa được bao lâu. Khoảng giữa năm 1973, ông nhận một nhiệm vụ mới. Người ta điều ông trở lại chính đơn vị mà ông đã cùng nó tử thủ ở An Lộc là Sư đoàn 5 Bộ binh. Lần này ông không về làm tư lệnh phó nữa. Ông về nắm quyền tư lệnh khi vẫn còn mang cấp đại tá. Đến năm 1974, sau một khóa học chỉ huy và tham mưu cao cấp tại Hoa Kỳ, ông được thăng Chuẩn tướng. Người vợ nghe tin ấy và bà không hỏi vì sao ông nhận. Bà biết rất rõ con người mình đã lấy làm chồng. Bà biết rằng có những nơi ông sẽ quay lại dù không ai bắt buộc. Bộ tư lệnh sư đoàn khi ấy đóng ở một căn cứ nằm trên quốc lộ 13 phía bắc Sài Gòn mang một cái tên rất ngắn Lai Khê. Từ mùa hè năm 1973, hai chữ đó bắt đầu xuất hiện trong nhà trong những câu ông dặn vợ qua địa chỉ ghi ngoài phong bì.
Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 những tháng cuối năm 1974
Ở cương vị mới, ông trở thành người chịu trách nhiệm về hàng chục nghìn binh sĩ. Những người từng phục vụ dưới quyền ông về sau kể lại một điều giống nhau. Ông là mẫu chỉ huy khắt khe với sĩ quan nhưng rất tiếc xương máu của lính. Ông hay nhắc rằng những người lính ấy là con em mà các gia đình đã gửi gắm cho quân đội. Vì thế ông không chấp nhận việc để họ chết một cách vô ích. Đó là một nguyên tắc rất giản dị và nó sẽ quyết định tất cả vào một buổi sáng chưa tới 2 năm sau. Trong khi đó, ở nhà mọi thứ ngày một khó khăn hơn.
Từ sau hiệp định ký ở Paris đầu năm 1973, chiến tranh không dừng lại như nhiều người trông đợi, viện trợ giảm dần. Vật giá leo thang từng tháng trong khu gia binh, các bà vợ bàn nhau chuyện gạo, chuyện dầu, chuyện tiền thuốc của con. Người vợ của vị tư lệnh sư đoàn cũng phải tính toán từng khoản như mọi người khác. Bà chưa bao giờ sống theo lối một phu nhân. Và điều đó về sau hóa ra lại là một sự chuẩn bị. Bốn đứa con lúc ấy đã lớn hơn, đứa đầu 10 tuổi, đứa út lên 6. Chúng bắt đầu hiểu rằng bố mình làm một công việc khác với bố của nhiều bạn cùng lớp. Chúng biết bố có xe đón, có người chào khi bố đi qua.
Nhưng chúng cũng biết bố hiếm khi ăn cơm tối ở nhà. Với bọn trẻ chiến tranh không phải là bản đồ và mặt trận. Chiến tranh là chiếc ghế trống ở đầu bàn ăn. Cuối năm 1974, gia đình lại một lần nữa thu xếp đồ đạc. Chiếc rương gỗ mang từ Hải Phòng lại được kéo ra giữa nhà, lau sạch lớp bụi trên nắp, bên trong dưới đáy là xấp báo mỗi lúc một dày. Lần này người vợ đặt thêm vào đó một thứ nữa. Bà tháo tấm ảnh cưới ra khỏi khung, gói lại rồi xếp xuống dưới cùng. Bà định bụng sang chỗ ở mới sẽ đóng đinh lên tường và treo lại ngay. Nhưng rồi ngày tháng cuốn đi hết. Chuyện trường lớp của các con lại đến chuyện chợ búa. Cái đinh ấy không bao giờ được đóng. Tấm ảnh cưới nằm im dưới đáy rương trong bóng tối suốt những tháng cuối cùng của cuộc chiến. Và không một ai trong ngôi nhà đó nghĩ đến việc lấy nó ra treo lên nữa.
Sài Gòn những ngày giữa tháng Tư năm 1975, cả thành phố đang đếm ngược mà không ai nói ra. Mọi thứ sụp xuống nhanh hơn tất cả những gì người ta hình dung.
Đầu tháng 3 Ban Mê Thuột mất, sau đó là lệnh rút khỏi cao nguyên. Rồi Huế, rồi Đà Nẵng. Từng vạn người chạy về phía Nam bằng mọi phương tiện mang theo những gì cầm được trên tay. Chỉ trong vài tuần, tấm bản đồ mà người miền Nam vẫn quen nhìn đã đổi màu gần hết. Ở Sài Gòn, người ta vẫn đi làm, vẫn mở hàng nhưng ai cũng biết có một cái gì đó sắp tới.
Trong ngôi nhà của gia đình ông Lê Nguyên Vỹ, không khí cũng khác hẳn. Chồng bà gần như không về nữa. Ông ở lại Bộ Tư lệnh nơi phòng tuyến phía Bắc Sài Gòn đang bị ép dần từng ngày. Những cuộc điện thoại về nhà ngắn lại, câu hỏi của ông cũng đổi. Ông không còn hỏi chuyện học hành của các con nữa mà hỏi giấy tờ của mấy mẹ con đã đủ chưa. Người vợ nghe câu ấy và hiểu ngay điều ông đang tính mà lấy ra 4 chiếc vali nhỏ xếp cạnh nhau trên nền nhà. Việc chuẩn bị cho một chuyến đi như thế không giống bất kỳ lần dọn nhà nào trước đó. 10 năm qua, bà đã đóng gói đồ đạc nhiều lần, nhưng lần nào cũng biết mình sẽ đi đâu, ở bao lâu, khi nào quay lại. Lần này thì không, bà không biết điểm đến, không biết bao giờ về, không biết cả chuyện có ngày về hay không. Vì thế thứ khó nhất không phải là xếp đồ mà là chọn xem cái gì được mang theo. Quần áo cho 4 đứa trẻ, mỗi đứa vài bộ, giấy khai sinh, ít tiền, mấy tấm ảnh. Chiếc rương gỗ mang từ Hải Phòng năm 1954 thì phải bỏ lại vì nó quá lớn và quá nặng.
Bà mở nắp rương lần cuối lấy ra xấp báo và tấm ảnh cưới đã gói sẵn rồi đóng nắp lại. Cái rương từng chở một cuộc đời băng qua biển giờ ở lại trong căn nhà trống. Ngôi nhà đêm trước ngày đi. 4 đứa trẻ được đánh thức khi trời còn tối. Đứa lớn nhất 10 tuổi, đứa út mới 6.
Chúng được mẹ dặn đi dặn lại một điều duy nhất là không được rời tay nhau và không được rời khỏi mẹ. Bọn trẻ chưa hiểu vì sao phải đi. Chúng chỉ biết mẹ đang rất vội và mẹ không cho phép ai hỏi thêm câu nào. Người mẹ ấy năm đó chưa tròn 30 tuổi. Bà đã sống 11 năm làng vợ lính, đã qua mùa hè An Lộc, đã quen với việc chồng vắng nhà. Nhưng chưa lần nào bà phải một mình đưa 4 đứa con ra khỏi đất nước. Trong túi áo, bà có mấy tờ giấy tùy thân. Trong lòng bà chỉ có một câu hỏi duy nhất là bao giờ chồng mình sẽ sang. Người chồng không có mặt trong buổi sáng hôm ấy. Ông đang chỉ huy đơn vị của mình ở phía bắc Sài Gòn giữa lúc mặt trận đã áp sát. Ông không có cách nào rời vị trí để tiễn vợ con. Không có cảnh chia tay ở sân bay. Không có cái ôm cuối cùng. Không có một lời dặn dò nào được nói ra vào phút chót. Lần gặp nhau cuối cùng của hai vợ chồng đã trôi qua từ trước đó một cách rất bình thường. Nó mới là điều tàn nhẫn nhất của những cuộc chia ly thời chiến. Vì ta không biết mình đang chia tay lần cuối. Không ai nói câu gì cho ra dáng lời trăng trối.
Người vợ chỉ nhớ chồng mình đứng dậy mặc áo rồi đi ra cửa như hàng trăm lần trước. Bà cũng làm đúng việc bà vẫn làm, là dặn ông giữ gìn sức khỏe rồi quay vào bếp. Về sau, bà sẽ dựng lại buổi sáng đó trong đầu hàng nghìn lần để tìm xem mình đã bỏ sót điều gì.
Sân bay Tân Sơn Nhứt
Những ngày cuối cùng, khu vực chờ đông nghẹt người, trẻ con khóc, người lớn gọi nhau. Có người ôm cả bao tải quần áo. Tiếng động cơ máy bay át hết mọi thứ. Người ta xếp hàng chìa giấy tờ rồi bị đẩy đi theo dòng người phía trước. Trong đám đông ấy có một người đàn bà nhỏ nhắn dắt 4 đứa nhỏ, mỗi đứa xách một chiếc vali con. Bà đếm đi đếm lại 4 cái đầu tóc đen ấy cứ vài phút một lần.
Khi máy bay rời phi đạo, phần lớn người trên khoang đều im lặng. Có người khóc, có người cố nhìn xuống dưới lần cuối. Từ trên cao Sài Gòn thu nhỏ lại thành những ô vuông màu sáng và những vệt sông màu nâu. Rồi mây che khuất tất cả. 4 đứa trẻ ngồi sát vào nhau và không đứa nào hỏi bao giờ được về nhà.
Chuyến đi ấy kéo dài nhiều ngày qua nhiều chặng. Như hầu hết các cuộc di tản trong tháng Tư 1975, người ta được đưa tới các đảo và các căn cứ trung chuyển ở tạm trong những khu lều bạt dựng vội.
Mỗi ngày lại có thêm hàng nghìn người mới đến. Người ta xếp hàng lãnh cơm, xếp hàng khám sức khỏe, xếp hàng làm giấy tờ. Trong những khu trại như thế, thứ tài sản quý nhất của mỗi gia đình là danh sách tên người thân. Đời sống trong trại có một nhịp riêng, rất đều và rất trống.
Buổi sáng, người ta xếp hàng lấy đồ ăn, mỗi người một khay. Buổi trưa, trẻ con chạy chơi giữa các dãy lều, quen nhau chỉ sau vài ngày. Buổi chiều, người lớn ngồi ngoài cửa lều nói với nhau về những nơi họ vừa rời đi. Không ai biết mình sẽ được chuyển đến nơi nào, cũng không ai biết sẽ sống bằng nghề gì.
Trong hoàn cảnh ấy, người mẹ nào cũng phải giả vờ rằng mọi thứ vẫn bình thường. Bà cắt móng tay cho các con, giặt quần áo, nhắc chúng đánh răng trước khi ngủ. Bà bắt bọn trẻ giữ nếp sinh hoạt như hồi còn ở nhà, giờ nào việc nấy. Mấy đứa lớn bắt đầu nhặt được vài câu tiếng Anh từ những người làm việc trong trại. Chúng đem về nói lại cho mẹ nghe, phát âm sai bét rồi cười với nhau.
Người mẹ cũng cười theo và chỉ có bà biết mình đang nghĩ gì. Trong lúc đó, bà nghĩ đến vốn tiếng Pháp học được từ ngôi trường Đầm ở Sài Gòn năm nào. Thứ vốn liếng ấy từng là niềm tự hào của cha mẹ bà. Bây giờ giữa khu trại này nó gần như vô dụng. Người ta không cần một cô gái biết chính tả tiếng Pháp. Người ta cần người biết làm việc bằng tay, biết nhận lương theo giờ, biết chịu đựng. Trong những đêm nằm nghe tiếng gió táp vào vách lều, bà bắt đầu tính đến chuyện phải học lấy một cái nghề. Nhưng tất cả những tính toán đó đều dừng lại ở cùng một chỗ. Chúng đều bắt đầu bằng giả định rằng chồng bà sẽ sang. Bà hình dung ông tới nơi trong một chuyến bay muộn gầy hơn, sạm hơn như hồi ở An Lộc về. Bà hình dung cảnh 4 đứa con ùa ra ôm lấy bố. Bà hình dung hai vợ chồng sẽ ngồi lại với nhau một tối, bàn xem nên bắt đầu như thế nào ở xứ này. Mọi kế hoạch của bà đều có mặt ông trong trại tạm cư mỗi buổi chiều.
Ở những nơi ấy luôn có một tấm bảng lớn dựng giữa sân dán chi chít giấy. Nó là danh sách những người mới nhập trại cập nhật liên tục đánh máy vội và dán chồng lên nhau. Người đi tìm thân nhân đứng vây quanh tấm bảng từ sáng đến tối. Ai cũng dò từng dòng tìm một cái tên rồi lùi ra nhường chỗ cho người phía sau.
Chiều nào bà cũng ra đó để 4 đứa con ngồi chờ ở một chỗ. Bà dò từ trên xuống dưới tìm 3 chữ Lê Nguyên Vỹ.
Ngày đầu không có. Ngày thứ 2 không có, ngày thứ 3, thứ 4, thứ 5 cũng vậy.
Nhưng bà không nản bởi bà biết ông là người chỉ huy và người chỉ huy bao giờ cũng rời đi sau cùng. Bọn trẻ bắt đầu hỏi bao giờ bố sang? Bà trả lời rằng bố còn bận việc, bố sẽ sang sau. Bà nói câu ấy với giọng bình thản nhất mà bà có thể giữ được. Rồi bà dắt các con về lều nấu ăn, giục các con đi ngủ. Sáng hôm sau, bà lại ra đứng trước tấm bảng ấy đúng chỗ cũ. Ở đó, giữa hàng trăm cái tên được dán thêm mỗi ngày, có một điều bà chưa biết. Cái tên bà đang tìm sẽ không bao giờ xuất hiện trên bất kỳ tấm bảng nào.
Vào lúc bà còn dò từng dòng chữ trong khu trại ấy thì cách đó nửa vòng trái đất, mọi chuyện đã kết thúc xong xuôi.
Nó kết thúc tại một căn cứ nằm trên Quốc lộ 13 vào buổi sáng ngày 30 tháng 04 năm 1975.
(còn tiếp 2 kỳ)









