Tọa lạc trên đồi Trầu, thuộc phường Đô Vinh, cách trung tâm thành phố Phan Rang – Tháp Chàm khoảng 7km về phía Tây Bắc, tháp Po Klong Garai được xem là cụm Tháp Chăm hùng vĩ và đẹp nhất còn sót lại ở Việt Nam.

Lối lên Tháp     

Cũng giống như phần lớn hệ thống kiến trúc đền tháp Chăm Pa chung hiện nay, những gì còn lại đều chỉ là chứng tích cổ xưa, hoang tàn như tháp Mỹ Khánh ở Huế, tháp Bánh Ít ở Quy Nhơn, tháp Nhạn ở Tuy Hòa, tháp Po Nagar ở Nha Trang, tháp Po Sah Inu ở Phan Thiết… Vậy mới thấy, cụm tháp Po Klong Garai ở Phan Rang còn được gần như nguyên vẹn là một điều đáng quý, trân trọng nỗ lực tôn tạo gìn giữ của bà con nơi đây.

Các Tháp Chăm đều có đặc điểm chung là những khối kiến trúc được xây dựng bằng gạch nung màu đỏ sẫm lấy ngay từ vùng đất địa phương. Phần phía trên đỉnh tháp sẽ có khuynh hướng mở rộng hơn một chút và thon vút hình bông hoa. Trần tháp có cấu tạo vòm cuốn, bên trong lòng tháp thường được đặt một bệ thờ Thần bằng đá rất đơn giản. Tất cả những nghệ thuật chạm khắc đẽo gọt công phu với những hình ảnh họa tiết như hoa lá, chim muông, vũ nữ, thần thánh… đều sẽ được tập trung thể hiện hết trên những mặt tường ngoài của tháp, có cả phù điêu người ngồi ẩn vào trong từng hốc hình lá đề và tượng Tiên nhô ra tại các góc, đặc biệt là phù điêu thần Shiva. Tuy mặt bằng tháp đa số là hình vuông nhỏ, không gian bên trong chật hẹp song các viên gạch đều được liên kết với nhau rất chắc chắn, liền kề thành khối, giúp cho công trình bền chắc tới hàng chục thế kỷ. Và chất liệu để tạo nên những tòa tháp cổ sừng sững suốt mấy trăm năm nay vẫn khiến nhiều nhà nghiên cứu phải đau đầu.

Tác giả và cô hướng dẫn viên người Chăm tại Tháp chính (Po Klong Garai)

Chỉ cho đến thời gian gần đây, khoảng năm 2006, các nhà khoa học Ý trong quá trình trùng tu Thánh địa Mỹ Sơn đã tìm ra được loại vật liệu kết dính để xây nên những tháp cổ Chăm Pa cách đây vài triệu năm: Chính là loại keo/dầu rái được tinh chế từ loại thực vật quen thuộc quanh vùng này. Từ đó, bí mật xây dựng đền tháp Chăm Pa đã dần dần được bóc tách từ từ, góp phần giúp cho việc trùng tu tháp cổ được chính xác, phù hợp, giữ gìn được giá trị lâu bền của di tích mà không phá vỡ kết cấu trước đó…

Xem thêm:   Một cuốc xe thồ

Đoàn chúng tôi đến thành phố Phan Rang – Tháp Chàm (Ninh Thuận) trong chuyến du lịch đầu tháng 6/2024. Và trong lịch trình đợt này, có chuyến thưởng ngoạn tháp Po Krong Garai. Cậu hướng dẫn viên trẻ cho biết mấy năm gần đây chính quyền địa phương đã tổ chức làm đường dẫn, đưa khách du lịch lên đến tận chân tháp bằng xe điện nên thu hút được nhiều đoàn khách tới đây hơn. Chứ ngày trước, muốn lên đến tháp phải trèo từng bước thang bộ được xây áp vào thân núi. Nhiều người đến được đây cũng phải lắc đầu bỏ cuộc, đứng dưới núi chụp mấy tấm hình xa xa, làm kỷ niệm với tháp rồi tần ngần quay về chứ lượng sức không lên nổi.

Bia đá trước Tháp

Theo chân cô hướng dẫn viên duyên dáng của khu tháp cổ, người dân tộc Chăm trong bộ trang phục truyền thống, chúng tôi được nghe kể về lịch sử hình thành tòa tháp, về những câu chuyện thần thoại xung quanh vị vua được thờ ở đây… Tận dụng thời gian tản ra dưới vòm me xanh mát cạnh khu tháp, đoàn chúng tôi được tận tay rờ vào những viên gạch nung đỏ, những viền keo kết dính lại với nhau mà tuổi đời chắc phải đến mấy thế kỷ. Lòng vẫn thầm phục mà không khỏi buột miệng cảm thán: “Người xưa đâu, mà tháp thiêng cao đứng như buồn rầu…” (lời bài hát Hận Đồ Bàn của NS Xuân Tiên).

Xem thêm:   Tháng bảy, heo may, chuồn chuồn bay...

Dọc theo duyên hải miền Trung nước ta, những làng Chăm hiện vẫn tồn tại, vẫn sống hiền hòa giữa quần thể cộng đồng người Việt, họ vẫn duy trì văn hóa, thờ phụng quanh những ngọn tháp cổ của mình và gọi tháp bằng tên gọi của những vị vua thần của họ, là Po Rome, Po Tam, Po Sah Inu… Và những ngọn tháp nghiêng nghiêng như trầm mặc, u hoài vẫn ngàn năm đứng im lìm cùng người dân như thế.

Mặt trước Tháp, với phù điêu thần Shiva

Quay lại câu chuyện của cô em giới thiệu dưới chân tháp, tháp Po Klong Garai này là Lăng tưởng nhớ ngài Klong Garai, một vị vua đã được thần thoại hóa. Theo truyền thuyết, mẹ ông từ nhỏ đã được hai vợ chồng già không con nhặt về từ một bọc vải trên đập Nha Trinh. Bà lớn lên rồi mang thai vì uống nước trên một tảng đá lớn trong rừng. Bà sinh ra một người con xấu xí, khắp mình ghẻ lở và đặt tên là Po Ong. Lớn lên, Po Ong đi chăn trâu, trong lúc ngủ cậu bé được rồng quấn quanh người khiến mọi vết ghẻ lở đều biến mất. Khi nhà vua băng hà, con voi trắng trong triều đã chạy thẳng ra ngoài, tới quỳ phục trước Po Ong và cõng ông về triều. Từ đó, dân chúng tôn ông lên làm vua, lấy tên Po Klong Garai. Ông làm vua Champa trong hơn 50 năm, lãnh đạo người Chăm chống lại ách đô hộ của triều đình Angkor, bình định xứ sở và phát triển nông nghiệp, được người Chăm suy tôn như một vị thần thủy lợi, bởi phát kiến những hệ thống dẫn thủy nhập điền vào thời đó.

Xem thêm:   Đường hầm xuyên lục địa

Tuy nhiên, câu chuyện khiến tôi ấn tượng nhất đến vị vua được thờ trong tháp này, chính là việc ông đã ngăn ngừa một cuộc chiến tranh phi nghĩa, dễ khiến toàn dân rơi vào cảnh lầm than: “5 năm sau khi lên trị vì, vua Po Klong Garai quay về Panduranga – quê hương của ông, xem địa thế để xây tháp kỷ niệm thuở hàn vi của mình. Khi đến vùng Balhul thì bị tướng Hakral, người Miên đang cai quản hạt này ra ngăn cản. Vua Po Klong Garai vì không muốn xảy ra cuộc đấu tranh đổ máu vô ích nên thách tướng Miên thi tài xây tháp, ai xây xong trước sẽ thắng. Biết khó có thể đánh thắng vua Po Klong Garai bằng sức mạnh quân sự, Hakral đã chấp thuận đề xuất này. Vua Po Klong Garai xây tháp trên đồi Balhla, còn tướng Hakral xây ở vùng Balhul. Kết cục, bên vua Po Klong Garai hoàn thành trước, tướng Hakral thua cuộc đành phải rút quân về”.

Trần Tháp (nhìn từ trong lòng Tháp)

Vậy là người dân Chăm Pa tránh được một cuộc chiến đầu rơi máu chảy, đồi Balhla lại thêm một ngọn tháp đẹp để nhân dân có nơi tưởng nhớ, thờ phụng thần linh…

Bỗng dưng tôi nhớ đến những cuộc chiến tranh căng thẳng vẫn đang diễn ra ngay lúc này. Những vị đứng đầu chính quyền liệu có lúc nào đó bỏ qua những dã tâm thôn tính, những tham vọng hiếu chiến của cá nhân mình mà nghĩ đến phương sách nhằm mang lại hòa bình cho các bên, cho người dân. Liệu họ có đủ đảm lược để thực hiện một cuộc điều đình, hòa hoãn như vua Po Klong Garai uy dũng của người Chăm Pa ngày xưa, thách đấu đối phương xây nên một công trình, chỉ nhằm mục đích tránh một cuộc chiến vô cùng phi nghĩa.

Bởi vì:

Nghĩ cho cùng

Mọi cuộc chiến tranh

Phe nào thắng thì nhân dân đều bại…” – lời thơ của nhà thơ Nguyễn Duy khi ông “mặc niệm trước Angkor đổ nát”.

Toàn cảnh cụm Tháp

Bài và hình LH (Tháng 6.2024)