Người Nam kỳ không ai xa lạ gì với người Bắc kỳ kể từ thời cụ Diệm đưa di dân Bắc kỳ vô Nam và chính phủ Đệ nhứt Cộng Hòa trợ giúp lập ra những khu xóm, ngôi làng di dân Bắc kỳ, những giáo họ Công giáo Bắc kỳ nổi tiếng như khu Ông Tạ ở Sài Gòn hay khu vực Gia Kiệm, Đồng Nai. Người Nam kỳ vẫn hát bài “Cô em Bắc kỳ nho nhỏ” (Phạm Duy) hoặc “Người từ là từ phương Bắc đã qua dòng sông, sông dài. Tìm đến phương này, một nhà thân ái…” (Khúc Hát Ân Tình, Xuân Tiên).
Thuở ban đầu, rất nhiều người Bắc kỳ thành danh, nên nghiệp, làm giàu ở Nam kỳ và được người Nam kỳ tôn trọng, quý mến. Khái niệm “sĩ phu Bắc Hà” được người Nam kỳ công nhận dùng để chỉ những người Bắc kỳ có học vấn, đạo đức, lối sống khiêm nhường và có khí tiết quân tử. Nói chung, người Nam kỳ thời ấy không ghét người Bắc kỳ. Bắc kỳ, Nam kỳ, Trung kỳ chỉ là những danh từ phân chia địa giới hành chánh từ năm 1884, hoặc cách gọi nơi chốn quê quán của con người mà thôi.
Ngày nay, lên mạng xã hội thấy nhiều người viết rằng “Tui là người Nam kỳ. Ai nói tui thằng Nam kỳ tui thấy bình thường. Nó Bắc kỳ mà nói nó “thằng Bắc kỳ” thì nó nhảy tưng tưng lên chửi um sùm. Ngộ vậy?”
Từ bao giờ hai chữ “Bắc kỳ” bị coi là tiếng chửi và là một sự sỉ nhục khi bị ai đó gọi là “Bắc kỳ”?
Ông bạn tôi, hiện cư trú ở một tiểu bang Bắc Mỹ, viết trên Facebook, “Chúng tôi là Bắc Kỳ 100% trong máu và gen tế bào, chúng tôi thấy xấu hổ vì giờ có những loài nói tiếng Bắc như chúng tôi nhưng lại rất lai tạp, vô học, rất mất dạy và vô cùng bẩn thỉu, dơ dáy. Chúng tôi chỉ xin nói rằng, chúng tôi hoàn toàn không như vậy. Chúng tôi gốc nông dân, lớn lên với lao động ruộng đồng, phân heo, cày cuốc, không phải “tinh hoa” cũng chẳng phải “hồng phúc dân tộc” nhưng được học hành đầy đủ để biết cẩn trọng lời ăn tiếng nói, biết tự trọng mình và tôn trọng người nghe. Chúng tôi dư đủ chữ để chửi thề văng tục nhưng sẽ dùng lúc thích hợp, nếu cần thiết, ít nhất là không làm giảm danh dự của bản thân mình. Người Bắc chúng tôi coi trọng lời ăn tiếng nói ngay cả khi chỉ là hình thức, khách sáo. Ma chay hiếu hỉ, cần phải có người ăn nói, một public speaker, một MC, thì chúng tôi phải chọn lọc kỹ lắm. Một lời sai trong điếu văn, trong lời cảm ơn, trong lời mời tiệc… cũng bị trách móc mãi. Tóm lại, bây giờ có một loài Bắc Kỳ mất dạy và vô học nhưng lại được tung hô, hâm mộ”. (?!)
Nhiều người gốc Bắc khác vô bình luận, nói qua nói lại thì cuối cùng mọi người cũng không lý giải được tại sao thời nay lại sản sinh “một loài Bắc kỳ” (mới) mà người Bắc tử tế không ai chịu nổi.
Tại sao bản thân là Bắc kỳ mà người khác gọi “Bắc kỳ” lại cho rằng người ta chửi, miệt thị, “phân biệt vùng miền”?
Ngày xưa có câu “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài /Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.” “Người Tràng An”, “sĩ phu Bắc Hà” đâu hết cả rồi? Bây giờ thì mạng xã hội tràn ngập những kẻ nói giọng Bắc thô tục, trình diễn kiểu ăn uống bẩn thỉu bặm trợn, khoe tiền, khoe của, và được số đông người xem “thần tượng”, trở thành KOLs (Key Opinion Leader), người của công chúng.
Đó là “chứng bịnh” tự ti, mặc cảm của người tự biết bản thân mình thấp kém so với người khác, nhưng thực lực không có, đành “phùng mang” lên để lừa người nghe, hòng mong được sự trọng vọng (hoặc nể, sợ) của người xung quanh. Báo chí “kách mệnh” ngày nay rặt một kiểu viết như vậy. Thí dụ: Thay vì viết “em đi học”, “tôi lái xe trên đường” một cách đơn giản, dễ hiểu thì họ viết “em tham gia học tập”, “tôi tham gia giao thông”. Người hành nghề tự do (không phải công chức nhà nước) cũng ráng ép xài chữ “công tác” mỗi khi họ đi đâu đó. Một ca sĩ lên chương trình/kế hoạch sản xuất video ca nhạc, thay vì viết “ca sĩ A sẽ làm video…” thì họ viết “Dự án ca nhạc của ca sĩ A…”, nghe ớn liền. Dân vô thức bắt chước theo.
Lâu ngày, kiểu “gồng mình”, “lên gân” đó thấm vô máu người Việt quốc nội. Người Bắc kỳ sau năm 1975 họ cũng hiểu ra họ bị lừa dối về một “miền Nam bị Mỹ – ngụy bóc lột”, hiểu ra cuộc sống của họ ở miền Bắc quá thua kém người miền Nam, nhưng thay vì chấp nhận sự thật để cầu tiến thì họ cố gắng che giấu bằng cách “phồng lên” lấy oai, nhưng nào ai có nể, bèn sinh ra thói “vô học, rất mất dạy và vô cùng bẩn thỉu, dơ dáy” thì người khác cũng “sợ”, nhưng là sợ như sợ rắn độc hoặc sợ chuột chết sình ngoài đường.

Hải Sapa và Phú Lê – 2 KOLs Bắc kỳ chuyên chửi bậy, nói tục và khoe ăn thô thiển.
Khoe ăn sang cũng là cách phủ nhận quá khứ đói kém của bản thân. Xưa người Việt ăn uống từ tốn, lịch sự, “Chiếu trải không ngay không ngồi, thịt cắt không vuông không ăn”. Giờ thì “ăn như heo” (ăn nhiều và ăn bẩn, ăn tạp) mới là “trend”. Khoảng 10 năm trở lại đây, trào lưu “ăn thùng uống vại” nổi lên rầm rộ, từ xứ Trung cộng lan sang xứ Việt cộng, xuất hiện những “thánh ăn” (mukbang) và sở thích quái dị là coi (watch) người khác ăn nhồm nhoàm, ăn phầm phập, ăn thô thiển phản cảm, và lấy làm vui.
Đọc truyện của “anh bộ đội cụ Hồ” Nguyễn Quang Lập mà cười ra nước mắt. Than ôi, dưới sự lãnh đạo “sáng suốt và tài tình của đảng ta” thì người dân quê thất học, nghèo đói cũng phải gồng mình lên “con nhái to bằng con bò”, người người sống dối trá, nhà nhà sống dối trá, ai cũng biết đó là dối trá nhưng vẫn cứ dối trá, lừa bịp lẫn nhau, hô khẩu hiệu thật khí thế ở nơi công cộng, khi trở về đối diện với chính mình thì xẹp như cái bong bóng bị xì hơi.
“Nó tên Giôn, tức Giôn-xơn. Hồi chiến tranh, chó mèo đều lấy tên Giôn xơn, Ních xơn, Thiệu, Diệm ra đặt cả. Làm cái nhà vệ sinh công cộng, vẽ cái mặt Giôn xơn, viết câu ca nhắc nhở: “Dù ai đi đâu về đâu/ Về đây mà đái lên đầu Giôn-xơn/ Căm hờn lại giục căm hờn/ Về đây mà đái còn hơn đái ngoài”. Đi đái còn phải căm thù sâu sắc huống hồ là đặt tên chó mèo.” (Ký ức vụn, Nguyễn Quang Lập)
Khi bản thân không có gì để thể hiện, gây sự chú ý với người khác thì chửi bậy, ăn nói ngông nghênh mất dạy cũng là một cách gây sự chú ý, nhưng đàng sau đó cho thấy một cá nhân bất tài và bất hạnh.
Xin mượn một đoạn trong Ký Ức Vụn của nhà văn Nguyễn Quang Lập thay cho lời kết:
“Làng Đông có chừng bốn, năm trăm nóc nhà, hơn một trăm nóc nhà hoặc là chồng đi công tác xa hoặc chồng chết bom chết bệnh. Không biết anh cu Đô chui vào bao nhiêu nhà trong số trăm nóc nhà ấy, chỉ biết suốt cuộc chiến tranh 1965-1975, tối nào cứ đến ba, bốn giờ sáng anh lại mặc cái áo bộ đội dài đến đầu gối, không thèm mặc quần, đi hết nhà này đến nhà kia, năm giờ sáng thì về.
Mình hỏi sao anh không mặc quần. Anh nói mặc mần chi, cởi vô cởi ra mệt.
Hoà bình, anh cu Đô hơn ba chục tuổi vẫn chưa vợ.
Một hôm làng tổ chức tuyên dương các mẹ các chị là vợ con bộ đội chung thủy đảm đang. Các mẹ các chị sắp hàng dài nhận phần thưởng, nhận giấy khen, mặt ai nấy hớn hở.
Anh cu Đô cũng đến, đứng sau cùng, nghe chị H. đại diện phát biểu lý tưởng, hoài bão, tiên tiến, thi đua, quyết tâm, căm thù, phấn đấu v.v… Anh cu Đô cười hậc, é he một tiếng rõ to rồi phủi đít quần ra về”.
TPT








