“…Chỉ là những câu chuyện vụn vặt được chắp nối qua những mảnh đời dân quê miệt kinh rạch hầu san sẻ cùng bạn trẻ, những người chưa hoặc không có dịp sống gần gũi với dân ruộng về các miền kinh rạch ấy như một nét đặc thù của văn minh Việt bên cạnh một nếp “văn minh miệt vườn” khá sung túc, trù phú…” (Hai Trầu Lương Thư Trung).
Luôn tự nhận mình là một “người nhà quê”, nhưng ai cũng hiểu là cách nói khiêm cung của một học giả, kiến thức quảng bác, như bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trìu mến nhận định “Nó là văn chương miệt vườn. Sau này muốn biết về miền Nam mưa nắng hai mùa ra sao thì phải đọc Sơn Nam và Hai Trầu thôi.”.
Mời bạn cùng chúng tôi dạo chơi cùng mưa nắng miền Nam…

(tiếp theo và hết)
Tác giả, nhân tiện đó, giải thích một số từ ngữ hoặc nhóm từ ngữ (đặc ngữ) quen dùng mà ta không biết nguồn gốc từ đâu hoặc biết nhưng biết sai:
– “một cây” (như: ăn chơi một cây, lấy le một cây, điệu một cây…): “Một cây” do chữ Nho “nhứt trụ kình thiên” = bẻ nạng chống trời. Sau này, một lượng vàng cũng gọi là một cây vàng, nhưng với nghĩa khác hẳn.
– “cũng”: đơn giản mà đa nghĩa, tùy cách dùng và hoàn cảnh dùng. Ông cho biết Nguyễn Du dùng đến 128 chữ “cũng” trong truyện Kiều. Nguyễn Ðình Chiểu dùng 37 lần (trong 2076 câu). Theo ông, “Trong cách dùng chữ “cũng”, khác nhau một trời một vực chứ không phải hơi hơi như nhiều người tưởng.” Người thị dân dùng chữ “cũng” cho nó qua chuyện, cho êm ái tình bằng hữu: cũng hay, cũng được, cũng xong; còn người dân dã, thôn quê thì dùng chữ “cũng” để tỏ lời khiêm cung rất mực: lúa mùa này cũng đỡ, con nhỏ này coi mòi đức hạnh cũng khá… Nhân chữ này, tác giả nhắc lại công án thiền “cũng thấy cũng chẳng thấy”, kể lại câu chuyện giữa sư Thần Hội với Lục Tổ Huệ Năng trong việc tu học, rất thâm thúy. Từ chuyện nhà quê, tác giả đưa ta tới một trong những đỉnh cao của triết học đông phương.
– “mẹ gà con vịt”: người ta lựa trứng tốt, có trống để nhờ vịt xiêm hoặc gà ấp, chứ không phải là người ta nhặt đại trứng vịt đẻ ngoài đồng về cho gà ấp (nếu không có trống thì làm sao mà nở ra gà con được).
– “ở bầu thì tròn ở ống thì dài”: chỉ để nói về nước thôi chứ không nói về gì khác. Tác giả cực lực bài bác ý kiến cho rằng câu trên là để chỉ người ta nuôi gà ống (gà trong ống tre).
– “nhĩ thuận”: trong câu nói của Khổng tử, thiên Vi Chính, Luận Ngữ. Có thuyết cho rằng “nhĩ” đây là “dĩ” (thôi, đã qua) không phải là tai. Còn Phan Bội Châu và Nguyễn Hiến Lê thì cho “nhĩ” là tai. Nói đúng thì phải là “lục thập nhĩ thuận” chứ không phải “lục thập thuần nhĩ” như ta thường nghe.
– “cọp” (coi hát cọp, cọp dê): Chữ “cọp” đây là từ chữ Pháp “copier”, nói trại ra là “cọp dê”. Từ đó phát sinh ra các chữ coi hát cọp, xài cọp, đọc báo cọp, nghĩa là coi ké, xài tiền ké, đọc ké, không tốn tiền và công sức. Tác giả phân biệt “cọp” và “chùa”. Cả hai đều có nghĩa là không tốn tiền nhưng cách dùng thì khác. Chữ “cọp” liên quan đến tinh thần: đọc báo cọp, coi hát cọp; chữ “chùa” liên quan đến vật chất: ăn chùa, hút chùa.
– “coi hát hạng cá kèo”: chỉ hiện tượng cá kèo hè nhau nhóng cổ đầy dẫy cặp theo các bờ ruộng vào mùa nước đứng ròng, nên gọi là “cá kèo nhóng cổ”. Coi hạng cá kèo là coi hạng bét, xa sân khấu, bị khán giả phía trước che khuất nên ngóng cổ lên mới xem được gọi là coi hát hạng cá kèo.
– “giồng”: tức là đất giồng, vốn là những gò cát chạy dài, nên chính trong lòng nó, cát đã là những hạt bụi khô hạn vậy. Vì thế, từ cái chỗ trồi mình lên cao nên nó ít bị ngập mà người ta mới quy tụ lên “giồng” để tìm cách sinh nhai…”. Từ đó, ta mới có những địa danh ngộ nghĩnh như giồng Trôm, giồng ông Tố hoặc các đặc sản như “rượu giồng”, “gà giồng”…
Theo ông, ngôn ngữ nói chung đều do kinh nghiệm thực tế mà hình thành. Không có kinh nghiệm, người ta sẽ không hiểu hay hiểu sai hẳn ý nghĩa của chúng.
“Lá Thư Từ Kinh Xáng” không chỉ là nỗi nhớ về vùng quê, mà còn chứa đựng tư tưởng. Từ kinh nghiệm ruộng đồng cụ thể, ông mở rộng suy gẫm của mình đến các tư tưởng lớn của đông phương như Khổng Giáo, Phật Giáo, Lão Giáo và các tác phẩm thơ văn hay biên khảo của nhiều tác giả lừng danh Việt Nam và Trung Quốc như Tô Ðông Pha, Nguyễn Khuyến, Phan Bội Châu, Sơn Nam, Nguyễn Hiến Lê, Ðông Hồ, Vũ Hoàng Chương…Và ngược lại. Quê mà không quê tí nào. Bàng bạc qua 370 trang giấy, tác phẩm toát lên một thứ triết lý mà tác giả gửi gắm vào. Tôi tạm gọi đó là “triết lý nhà quê”. Xin ghi lại một vài trích đoạn nằm rải rác trong tác phẩm:
– “Nghĩ cho cùng không có người nhà quê làm gì có kẻ chợ; không có người dốt làm sao có được kẻ khôn.”
– “Ở nhà quê mình, coi vậy mà nhất nhất việc gì cũng có cái lễ nghĩa trong đó nghe chú Ba.”
– “Tại cái bụng người đời ưa lấy cái có làm giàu, lấy cái mới làm tốt, lấy cái sang làm trọng, lấy cái học làm cao nên mọi cái khác khi không cần hoặc quá quen thuộc cứ tưởng là mình không bao giờ dùng tới nữa, rồi đâm ra mau quên.”
– “Chú biết chắc chắn một điều là ở nơi chú bây giờ đây không có cái gì “chính thống” cho bằng lấy ruộng làm gốc, lấy quê làm nguồn.”
– “Từ đời ông cố ông sơ rồi tới đời ông nội… tính có hàng trăm, hàng trăm chỉ biết lấy ruộng làm gốc, lấy quê làm nền. Từ trong ruộng mới đẻ ra cái lòng bền bỉ, kiên nhẫn chịu đựng (…)… ở trên đời này không có đức chịu đựng, chịu thua, chịu lép như vậy chưa chắc gì đời nay cũng như đời xưa có được giới chữ nghĩa, giới thầy chú, giới quan quyền, giới trí thức trí thiết ăn trên ngồi trước trong xã ngoài làng, trên tỉnh ngoài huyện như từ hồi nào tới giờ…”
– “Nước có thể mất, nhà có thể tan, nhưng cái nền nhà quê vẫn còn hoài hà, khó ai có thể bứng nó dời đi được.”
– “Cái mùi hương hoa đất nước nó làm nên tiến sĩ này, bác vật kia chú nghĩ là cái mùi lúa mới ấy chứ không có trí thức trí thiếc “chính thống” hay “không chính thống” gì ráo trọi. Nó là nền là gốc của mọi nề nếp văn hóa Việt Nam mình.” (…) “Những ông già bà cụ là những người không rao giảng văn hóa bao giờ; thế mà chính họ là những nhà văn hóa thứ thiệt.”
Rốt cuộc, nói là nhớ, thực ra, Hai Trầu suy gẫm. Không phải là những suy gẫm lang bang “tiền chế”, mà là những suy gẫm “hậu-chế”, xuất phát từ hiện thực cuộc sống của chính anh.
o O o
Hai Trầu là một bút hiệu khác của nhà văn Lương Thư Trung. Ông sinh trưởng ở Tân Bình, Sa Đéc. “Lá Thư Từ Kinh Xáng” do Thư Ấn Quán của Trần Hoài Thư phát hành, là một trong hơn 10 tác phẩm của ông đã được xuất bản cho đến nay, trong đó có “Bến Bờ Còn Lại”, “Tình Thầy Trò”, “14 Tác Giả, Mỗi Người Một Vẻ”, “Nhớ Về Những Bến Sông”, “Mùa Màng Ngày Cũ”, “Một Chút Tình Quê”, “Nhớ Về Những Ngày Tháng Cũ”, “Người Đọc và Người Viết” (4 tập)…
Trần Doãn Nho
KENNEDALE, Texas, ngày 26 tháng 2 năm 2025








