Đây là câu chuyện thật về chiếc tàu từng đóng một vai trò quan trọng trong việc thành lập nước Israel. Nó không giống gì với truyện tiểu thuyết ‘Exodus’ của tác giả Leon Uris được dựng thành phim năm 1960 mà nhiều người Việt chắc đã nghe hoặc xem qua.

Chiếc “Exodus 1947”. Ảnh: Frank Shershel. 

Còn nhớ hồi Tết Mậu Thân, đài số 9 ở Sài Gòn mỗi khi chiếu tin chiến tranh thường mở đầu bằng một bài nhạc mà anh chị em chúng tôi hay gọi là bản “cháy nhà”, vì cứ hễ nghe tiếng nhạc trổi lên là lại thấy cảnh nhà cháy. Mãi về sau tôi mới biết nó là nhạc phẩm chính trong phim ‘Exodus’. Trước 75 quyển sách này được dịch ra tiếng Việt tựa là ‘Về Miền Ðất Hứa’. Nhưng thuở ấy chúng tôi nào biết đó chỉ là chuyện hư cấu, còn sự thật về con tàu ấy lại rất khác — và ly kỳ hơn nhiều.

Ðể hiểu đầu đuôi câu chuyện, cần nhắc lại là vào cuối tháng 5, 1939, chính phủ Anh công bố tập Bạch Thư về chủ quyền của họ tại Palestine — từ sau Ðại Thế Chiến vẫn nằm dưới quyền kiểm soát của Anh. Bạch Thư cho biết vùng đất này không là một quốc gia của người Do Thái hay người Ả Rập, mà trong vòng 10 năm tới sẽ là một quốc gia độc lập. Nên nhớ lúc bấy giờ Anh đang rất cần sự hợp tác của khối Ả Rập, nguồn dầu lửa vô cùng quan trọng cho họ trong Ðệ Nhị Thế Chiến. Ðể làm vui lòng người Ả Rập, Anh sẽ hạn chế dân Do Thái nhập cư vào Palestine — không quá 75 ngàn người trong vòng 5 năm.

Bạch Thư này được tung ra ngay lúc nạn bài Do Thái đang lên cao tại Ðức và các nước Ðông Âu khiến số người tị nạn Do Thái tìm đường đến Palestine tăng vọt. Ðể chống lại nạn di dân lậu, Hải quân Anh phong toả vùng biển phía Ðông Ðịa Trung Hải. Tàu bè chở thuyền nhân Do Thái đến gần Palestine đều bị chặn bắt và đưa về các trại tị nạn ở đảo Cyprus. Tỉ lệ di dân lậu lọt qua mạng lưới Hải quân Anh rất thấp, dưới 10%. Dẫu vậy dân Do Thái khắp nơi vẫn tìm mọi cách đổ về Palestine để tránh bị tàn sát.

Du thuyền “President Warfield” trong Vịnh Chesapeake năm 1939. Ảnh: Hans Marx/Baltimore Sun

Mặc dù nước Mỹ khi ấy cũng không mở cửa đón nhận dân Do Thái, nhưng vào năm 1942 lãnh đạo tổ chức Jewish Agency ở Palestine là David Ben Gurion quyết định sang Mỹ tìm tài trợ cho phong trào Zionism. Ðể được cộng đồng quốc tế hậu thuẫn, ông đổi chiến thuật. Thay vì sử dụng bạo lực qua các nhóm khủng bố như Irgun, Lehi để tấn công người Anh và Ả Rập, ông chuyển sang dùng những người lưu vong làm vũ khí đánh động lương tâm thế giới. Tại New York ông đã được rất nhiều người Mỹ-Do Thái đóng góp tiền bạc cho công cuộc giải cứu dân Do Thái ở Âu Châu.

Xem thêm:   Nuôi hay không nuôi

Một trong những nhóm người đó đã đứng ra mua lại một chiếc tàu cũ và biến nó thành tàu chở dân tị nạn. Tên chiếc tàu này là “President Warfield”. Thời trước Ðệ Nhị Thế Chiến nó từng là một du thuyền hạng sang, chuyên đưa du khách thưởng ngoạn vùng Vịnh Chesapeake — từ Baltimore, Maryland, đến Norfolk, Virginia, có khi xuống tận Florida. Khi Hoa Kỳ nhảy vào vòng chiến, “Warfield” được nhà nước trưng dụng để phục vụ quân đội Ðồng Minh ở Âu Châu. Nó từng tham gia trận Normandy trong ngày D-Day. Sau chiến tranh “Warfield” được giải ngũ, bấy giờ nó đã già nua và bị bầm giập. Nhưng nhờ vậy mà vào đầu năm 1947 một nhóm Zionist ở Mỹ đã mua lại được “Warfield” với giá rẻ bèo — 40 ngàn USD!

Thuỷ thủ trên tàu toàn những chàng trai trẻ không có kinh nghiệm đi biển. Lần đầu xuất quân họ bị một trận bão lớn đánh cho ói mửa, đi chưa đầy 100 hải lý đã phải quay trở lại Baltimore. Một số bỏ cuộc, trở lên bờ. Mặc dù “Warfield” được đăng bạ với chính phủ Honduras, và hải trình chính thức là đi Hongkong, nhưng Toà đại sứ Anh làm áp lực Honduras phải thu hồi giấy phép chiếc “Warfield” vì biết nó sẽ được dùng để đưa di dân lậu vào Palestine. Biết bị phát giác, thuỷ thủ đoàn nhanh chân nhổ neo rời cảng. Trên tàu còn có một mục sư Presbyterian xin đi cùng để làm nhân chứng và viết phóng sự. Bấy giờ là tháng 2, 1947.

Người tị nạn chen chúc trên chiếc “Exodus”. Nguồn: jewishvirtual library.org

Tàu vừa đến cảng Marseille (Pháp) thì tình cờ hôm đó cũng một phái đoàn Liên Hiệp Quốc đến để thăm dò tình hình. Thấy không ổn, “Warfield” lại phải tức tốc nhổ neo. Sau nhiều ngày trôi nổi, cuối cùng họ cũng được phép cập bến ở Sète, miền Nam nước Pháp. Trong khoảng thời gian ấy, trên đất liền nhóm dân quân Haganah đã tổ chức một cuộc di tản vĩ đại. Họ thu xếp đưa mấy ngàn người Do Thái từ khắp nơi tề tựu về Sète bằng mọi phương tiện. Ða số những người này là cựu tù nhân từ các trại tập trung của Nazi ở Ðức, Áo, Ba Lan, Lithuania v.v. Chỉ trong vòng một ngày, chiếc du thuyền từng chở 400 du khách Mỹ bỗng biến thành trại tị nạn nổi chứa 4,554 người Do Thái lưu vong.

Xem thêm:   Nakba Ngày Đại Nạn

Tàu vừa ra đến hải phận quốc tế là đã có ngay vài chiến thuyền của Anh kèm theo đuôi. Mọi người trên tàu ai cũng biết chuyện gì sẽ xảy ra. Khi gần đến Ai Cập, thuyền trưởng Yitzhak Ahronovitch của Haganah cho giương tấm vải mang bảng tên mới: “Exodus 1947”. Trên tàu mọi người chuẩn bị chiến đấu với lính Anh. Họ giăng dây kẽm gai quanh thân tàu. “Exodus 1947” vừa vào đến hải phận Palestine là liền bị hai chiến thuyền bọc sắt của Anh ép sát hai bên hông. Họ tông nó nhiều lần trước khi cho lính Anh nhảy sang. Một cuộc ẩu đả ác liệt diễn ra. Không một tấc sắt trong tay, người dân đã phải dùng mọi thứ họ có, kể cả khoai tây và các lon đồ hộp để chống trả. Một thuỷ thủ người Mỹ tại phòng lái bị lính Anh đánh bể sọ, sau đó chết tại nhà thương. Hai người dân khác tử vong. Sau 4 tiếng đồng hồ, đám đông đầu hàng.

Thuyền nhân đổ bộ xuống Haifa trước khi bị chở trở về Pháp. Nguồn: jewishvirtuallibrary.org

Thay vì đưa đám lưu dân này từ Haifa sang Cyprus như mọi khi, ngoại trưởng Anh Ernest Bevin vì muốn dằn mặt Ben Gurion và Jewish Agency nên ra lệnh đưa họ về Pháp trên 3 chiếc tàu nhỏ hơn. Bị đặt trong thế kẹt, chính phủ Pháp nói họ chỉ nhận những người nào tự nguyện rời tàu. Chỉ có 150 người quyết định lên đất liền, đa số là phụ nữ có con nhỏ hoặc người già yếu, số còn lại nhất định tử thủ tới cùng. Không ai bảo ai, họ đồng lòng thà chết chứ không lên bờ. Báo chí bắt đầu tường thuật số phận những nạn nhân Holocaust trên chiếc tàu mang tên “Exodus 1947”.

Xem thêm:   Lillian Ngô Usadi và học bổng Rhodes

Sau 3 tuần lễ, Ngoại trưởng Bevin ra tối hậu thư: Ai không xuống sẽ bị đưa đến Hamburg! Vẫn không một ai nhúc nhích. Thế là chính quyền Anh cho tổ chức một cuộc họp báo tại Hamburg, Ðức, để đón tiếp đoàn thuyền nhân bất đắc dĩ. Chiếc tàu đầu tiên đổ bộ tạm ổn, tuy cũng có một số người kháng cự. Nhưng sau khi những người trên chiếc thứ nhì rời tàu họ đã đặt thuốc nổ đánh chìm tàu. Anh quốc bị cộng đồng quốc tế lên án dữ dội vì đã tống những người vừa trốn thoát Nazi trở về Ðức. Qua đêm, công luận xoay qua chống Anh và ủng hộ những người lưu vong. Mùa Thu năm đó Liên Hiệp Quốc quyết định phân chia Palestine, trao một phần đất cho người Do Thái. 14 tháng 5, 1948, Anh rút quân khỏi Palestine. Ngày hôm sau David Ben Gurion tuyên bố sự ra đời của Quốc gia Israel, mở màn cho một trang sử mới.

Tại Haifa, nơi hơn 4,000 thuyền nhân đổ bộ hồi tháng 7 trước khi bị đưa về Pháp, chiếc “Exodus 1947” bị mọi người bỏ quên. Năm 1952 không hiểu vì sao nó bốc cháy và chìm xuống biển. Ngày nay nơi đây người ta cho dựng một bức tượng để tưởng niệm con tàu lập quốc đến từ Mỹ. Thuyền trưởng Ahronovitch thổ lộ: “Nhờ trời thương, gởi ông Ernest Bevin xuống nên chúng tôi mới có được một nước Israel như ngày nay!”

Thuyền trưởng Yitzhak Ahronovitch năm 1961. Nguồn: UPI

IB