Năm 1958, Tổng Thống Dwight D. Eisenhower đã thành lập DARPA (Defense Advanced Research Projects Agency) – Cơ quan Dự án Nghiên Cứu Quốc phòng Tân Tiến, có tác động lớn đến sự phát triển những công nghệ mới cho cả lĩnh vực quân sự và dân sự của Hoa Kỳ.

DARPA với kế hoạch trang bị túi bay phản lực cho quân đội. nguồn: www.voonze.com

Máy bay Không Người Lái Gremlin-drones của DARPA. Nguồn. droned      

Mục đích chính của DARPA là gì?

Năm 1957, Liên Xô phóng Sputnik, vệ tinh đầu tiên, bay trên quỹ đạo trong 22 ngày, sự kiện này gây sự chú ý cho cả thế giới, và đặc biệt là Hoa Kỳ. Liên Xô đã tới quỹ đạo trước nhất với hỏa tiễn Sputnik, điều này đã chứng minh Liên Xô có khả năng phóng đầu đạn nguyên tử trong không gian và tấn công các quốc gia bên dưới. Trong chính sách quốc phòng của Hoa Kỳ, Sputnik đã trở thành một ví dụ về “Công nghệ bất ngờ”. DARPA ra đời để bảo đảm rằng Hoa Kỳ luôn là quốc gia tạo ra những bất ngờ chứ không bị bất ngờ, DARPA với các văn phòng tiến hành nghiên cứu của riêng họ, chuyên thiết kế để mang lại những cải tiến công nghệ quốc phòng. Một trong số này là Văn Phòng Nghiên Cứu Hải Quân (Office of Naval Research – ONR), Phòng thí nghiệm Nghiên Cứu Không Quân (Air Force Research Laboratory, AFRL) và Bộ Tư lệnh Phát triển Khả năng Chiến đấu của Lục quân (U.S. Army Combat Capabilities Development Command, CCDC).

Công trình rô bô trinh sát, tác chiến cho quân đội Mỹ . Nguồn. movietvtechgeeks.com

DARPA bắt đầu ra sao?

Xem thêm:   Dubai

Sputnik là khởi thủy cho câu chuyện về DARPA. Đó là sự kiện đã thúc đẩy Tổng thống Eisenhower thành lập cơ quan này. Hỏa tiễn vào thời điểm đó không phải là mới, nhưng phần lớn rất bí mật. Trong Thế chiến II, Đức Quốc Xã đã phóng hỏa tiễn mang chất nổ chống lại Anh. Những hỏa tiễn V-2 này, với một số kỹ sư thiết kế và chế tạo, đã bị Hoa Kỳ và Liên Xô bắt giữ, và mỗi quốc gia bắt đầu phát triển các chương trình vũ khí từ kiến ​​thức ấy. Bản thân hỏa tiễn là một cách tấn công quốc gia khác rất hiệu quả, bởi vì chúng có thể tấn công các mục tiêu quân sự ở xa, như kho đạn hoặc các mục tiêu dân sự, khu dân cư, nhà thờ, gây ra sự gián đoạn, khủng bố và tàn phá một quốc gia khác.

Điều khiến Hoa Kỳ sợ hãi về Sputnik là, một hỏa tiễn có thể di chuyển hàng trăm dặm trong bầu khí quyển của trái đất, chứng tỏ Liên Xô có thể làm một hỏa tiễn xuyên lục địa, hay ICBM (intercontinental ballistic missile, là hỏa tiễn đạn đạo có tầm bắn xa hơn 5,500 km). ICBM có thể mang theo đầu đạn nhiệt hạch, đe dọa sự hủy diệt hàng loạt trên khắp các lục địa.

Việc Mỹ chế tạo và sử dụng vũ khí nguyên tử, sau đó là phát triển bom kinh khí (bom H), cũng có thể được hiểu là một bất ngờ về công nghệ, mặc dù cả hai dự án đều có trước DARPA. Popular Science lần đầu tiên đưa tin về DARPA vào tháng 7 năm 1959: “U.S, với ‘Hàng rào không gian’ báo động vệ tinh gián điệp của Nga”. Nó vạch ra mối đe dọa mới cho Hoa Kỳ, từ việc giám sát không gian và bom nhiệt hạch,

Công trình nghiên cứu người máy cho quân đội Mỹ. Nguồn.www.sott.net

DARPA đã phát minh ra internet?

Xem thêm:   Allen PAC

ARPANET (Advanced Research Projects Agency Network), tiền thân của internet, được thành lập vào năm 1969, chủ yếu là ở bờ Tây. Kết nối các mạng tại Đại học California, Santa Barbara; Đại học California, Los Angeles; Đại học Utah; và Viện nghiên cứu Stanford. Đến tháng 9 năm 1971, ARPANET đã đến bờ biển phía Đông với một mạng lưới trải dài khắp lục địa kết nối các căn cứ quân sự, phòng thí nghiệm và trường đại học vào cuối những năm 1970. Tất cả đều gửi thông tin liên lạc qua đường dây điện thoại.

Hai điều mới quan trọng khác đã làm cho ARPANET trở thành khuôn mẫu của internet. Đầu tiên là các đường dây liên lạc để phục vụ cho các mạng. Thứ hai là thiết lập các cách thức tổng quát để truyền và thực hiện các chức năng. Cho phép máy tính của các công ty khác nhau chia sẻ cùng một ngôn ngữ và hình thức giao tiếp. ARPANET chính thức đã ngừng hoạt động vào năm 1988, một phần nhờ vào mạng internet mới.

Xe tác chiến ở mọi địa hình của DARPA. Nguồn.www.wonderfulengineering.com

Các dự án DARPA chính là gì?

Trong 65 năm, DARPA đã thúc đẩy sự phát triển công nghệ bằng cách tài trợ cho các dự án và quản lý ở giai đoạn nghiên cứu, phát triển, trước khi chuyển giao các dự án đó cho các đơn vị khác, như phòng thí nghiệm hoặc ngành công nghiệp tư nhân, để được thực hiện đầy đủ. DARPA đã góp phần định hình công nghệ trên máy tính, cảm biến, robot, phương pháp tự hành, phương tiện không người lái, tàng hình và thậm chí cả vắc-xin COVID-19 của Moderna.

Xem thêm:   Con gấu ngựa

Công nghệ tàng hình, trong đó hình dạng cũng như vật liệu chế tạo được dùng công nghệ đặc biệt để giảm thiểu sự xuất hiện của nó trên các cảm biến. Việc DARPA phát triển máy bay tàng hình HAVE BLUE, đã mở đường cho các máy bay tàng hình đời đầu như máy bay chiến đấu F-117, máy bay B-2, từ đó dọn đường cho các máy bay tàng hình hiện đại như F-22, F- 35 và B-21. Các dự án khác như máy bay không người lái MQ-1 Predator và xe hơi tự lái.

Vào năm 2013, Moderna đã nhận được 25 triệu đô la tài trợ từ DARPA, trong đại dịch COVID-19 nhằm tài trợ và hỗ trợ từ chẩn đoán, điều trị đến công nghệ sản xuất.

Dụng cụ tăng lực cho lính tác chiến của DARPA. Nguồn.www.pinterest.com

Máy bay không gian bí mật X-37B.

Là một máy bay robot không gian giống như tàu con thoi có thể điều khiển được từ xa của NASA. Do DARPA phát triển và sau đó trở thành dự án của Lực lượng Không quân Hoa Kỳ. Ngày nay nó được điều hành bởi Lực lượng Không gian (The United States Space Force). Robot này có thể ở trên quỹ đạo trong một khoảng thời gian dài, với sứ mệnh gần đây kéo dài hơn 900 ngày. Phương tiện này đóng vai trò là nơi thử nghiệm cho một loạt công nghệ, bao gồm chuyến bay quỹ đạo tự động cũng như các thử nghiệm về cảm biến và nghiên cứu tác động của không gian đối với các loại vật liệu khác nhau.

DARPA là nơi phát triển các công nghệ mới nhất cho Hoa Kỳ, là vòng tay bảo vệ và chống lại những toan tính phương hại cho đất nước và người dân Hoa Kỳ.

Rô bô thế hệ mới của DARPA. Nguồn. www.pinterest.com

HĐV

Theo Kelsey D. Atherton