“If it stays, then it is love. If it ends, it’s a love story.”

Nichomachus

Nếu tồn tại thì là Tình Yêu. Nếu chấm dứt thì là một chuyện tình”

 

Vậy: Tình Yêu là gì? Ở với nhau suốt đời là: “tồn tại”? Hay chia tay để nhớ nhau suốt đời là: “tồn tại”? Khó nói thật.

Nếu chúng ta đã sống qua một chặng đường dài, thì không nhiều thì ít chúng ta cũng hiểu thấu đáo hay hiểu lơ mơ về tình yêu.

“Tình Yêu” là gì? Có người yêu thoáng qua trong một sát na nào đó nhưng tồn tại mãi mãi:

Ta yêu người như yêu ly nước lạnh

Ta nhớ người như nhớ áng mây trôi

Mây loáng thoáng bay và nước đạm nhạt

Ta yêu người mãi yêu xa yêu hoài

TMT

Hay: Em ơi lửa tắt bình khô rượu

Đời vắng em rồi say với ai (VHC)

Có thật họ yêu như thế không? Hay chỉ là những cách diễn tả tình yêu của thi sĩ trong một phút yếu lòng? Hay thi sĩ thì làm gì, nghĩ gì cũng bật ra thơ trong một sát na nào đó? Tồn tại hay không thì chỉ có người viết xuống những dòng thơ đó biết riêng cho họ.

Tình yêu. Một đề tài tốn bao nhiêu là giấy mực từ thời ông Adam và Bà Eva yêu nhau bị Chúa phạt đuổi ra khỏi vườn Địa Đàng.

Tại sao Chúa là “Tình Yêu” lại phạt hai người yêu nhau nhỉ? Có ai đã đặt ra câu hỏi này chưa?

Tình yêu từ Đông sang Tây, từ thời cổ đại cho đến bây giờ, tốn không biết bao nhiêu giấy mực. Người cho là dại khờ ngu xuẩn, kẻ cho là khôn ngoan tinh tế. Trăm nghìn bài Thơ, trăm nghìn Pho Sách về Tình Yêu được viết trên tre, trên trúc, trên giấy trên lụa và bây giờ viết trên bàn tính, viết trên điện thoại…viết không ngưng nghỉ, Tình Yêu vẫn không bao giờ chấm dứt nếu nhân loại còn thở. Trần Mộng Tú

Hãy cùng đọc đoạn văn viết về “Tình Yêu” dưới đây của Phan Khôi:

Xem thêm:   Suy Đi Ngẫm Lại (08/20/2026)

Kinh Thi mở đầu ra là sách Quốc phong, sách Quốc phong mở đầu ra là thiên Châu Nam, thiên Châu Nam mở đầu ra là bài Quan thư, và bài Quan thư là một bài tình thi. Thế là ông Thánh đời xưa dọn bộ Kinh Thi mà mở đầu ra đã cho chúng ta đọc một bài thơ tình, chẳng có khem cữ chút nào hết. Ấy vậy mà khi nó bị trải qua dưới cặp mắt có mang kính màu của hậu nho, nó phải biến hình đi, thành ra một nghĩa khác.

Quan quan thư cưu

Tại hà chi châu

Yểu điệu thục nữ

Quân tử hảo cầu

(Quan quan chim thư cưu kêu / Ở nơi doi sông hà / Dịu dàng gái lành / Xứng đôi cùng người quân tử)

Đó chẳng qua một người con trai một người con gái yêu nhau thì thốt ra như thế. Có tưng bốc nhau những là thục nữ, quân tử thì mới mạnh mẽ, mà hạ được cái ý dan díu nhau và gắn bó nhau.

Châu Nam là phần đất cai trị của vua Văn Vương nhà Châu. Hậu nho tin vua Văn Vương là thánh, miền ngài cai trị phải có phong hóa tốt đẹp, chắc không có đâu sự trai gái ve nhau và do đó có những bài hát hoa tình. Thế nhưng bài thơ Quan thư đã nghiễm nhiên đứng đầu Kinh Thi, không có thể nào xóa bỏ đi được, họ chỉ có một cách là giải thích nó ra nghĩa khác.

Quân tử đó là vua Văn Vương, thục nữ đó là bà hậu phi, vợ ngài; một đằng là thánh nhân, một đằng là trang khuê các, có đức “u nhàn trinh tĩnh”, hai đằng phối hợp cùng nhau, nhờ đó mà gây nên cái công hiệu tề gia trị quốc, nên thi nhân mới làm bài thơ này để khen. Đó là lời giải thích của các bậc hậu nho, và lời giải thích thật là quanh co quá!

Xem thêm:   Lòng người

Nhưng cái bản sắc của bài Quan thư là một bài thơ tình thì không vì lời giải thích ấy mà mất đi được. Vì cuối bài ấy có những câu:

Sâm si hạnh thái

Tả hữu lưu chi

Yểu điệu thục nữ

Ngụ mị cầu chi

Cầu chi bất đắc

Ngụ mị tư bặc

Du tai! Du tai!

Triển chuyển phản trắc!

(So le rau hạnh / Tả hữu thuận dòng theo đó / Dịu dàng gái lành / Thức ngủ tìm đó / Tìm đó chẳng đặng / Thức ngủ nhớ nhung / Thảm thay! Thảm thay / Trằn trọc tráo trở!)

Bài thơ Quan thư (Chu Nam) của vua Thanh Càn Long và bức tranh minh họa – nguồn wikimedia.org

Những câu thơ tỏ ra cái tình ái luyến rất nồng nàn và nói ra một cách rất giản dị ấy không có thể hợp với cái thuyết đạo đức đứng đắn của hậu nho được; nó đã là thơ tình thì bao giờ nó cũng vẫn là thơ tình.

Cũng như sách Nhã Ca trong Kinh Thánh Cựu Ước vốn cũng là những bài thơ tình, tả tình lại còn suồng sã xốc nổi hơn Quốc phong nữa, thế mà cũng đã bị người ta thay đổi mặt mày của nó.

Nhã Ca mở đầu có những câu:

“Nguyện người hôn tôi bằng cái hôn của miệng người,

Vì ái tình chàng ngon hơn rượu”[1]

Như thế còn ai chối được rằng thơ ấy không phải bởi sự trai gái âu yếm nhau mà ra? Suồng sã xốc nổi như những câu:

“Hãy lấy bánh nho uống đỡ lòng tôi,

Dùng trái bình bát bổ sức tôi lại,

Vì tôi có bịnh bởi ái tình,

Tay tả người kê dưới đầu tôi,

Còn tay hữu người ôm lấy tôi…”

Trong Kinh Thi có bài tả cái đẹp của các chi thể người đàn bà như cái đầu, cái cổ, chân mày, con mắt v.v… thì Nhã Ca lại còn tả đủ hơn nữa, như đoạn này:

“Chơn nàng mang giày, xinh đẹp biết bao,

Vế nàng béo mướt, khác nào như ngọc,

Rốn nàng giống như cái ly tròn,

Bụng nàng dường một đống lúa mạch,

Hai vú nàng như hai con sanh đôi của hoàng dương,

Cổ nàng như một cái tháp ngà,

Mắt nàng khác nào cái ao tại Hết-bôn,

Mũi nàng như ngọn tháp Li-ban ngó về hướng Đa-mách,

Đầu trên mình nàng khác nào núi Cạt-mên,

Và tóc nàng như sắc tía…”

Tả sắc đẹp của đàn bà mà tả đến những cái vú, cái rốn, cái đùi (vế) thì thật là bạo quá. Không ai ngờ được rằng trong kinh điển của một tôn giáo lại có được thứ văn chương như vậy.

Xem thêm:   Người ở lại

Thấy nói đương hồi thế kỷ thứ nhất có nhiều dòng đạo nghiêm chính không chịu nhìn những sách Nhã Ca là Kinh Thánh. Nhưng về sau, ai ai cũng nhìn nó cả, là vì nhờ cách giải thích của các học giả bên đạo, nó trở nên có một nghĩa rất cao và rất hay.

Người ta nói những bài thơ trong sách Nhã Ca đó là mượn sự yêu nhau giữa trai gái để ngợi khen sự quan hệ giữa Đức Chúa Trời với dân ngài. Theo văn học, đó là một nghĩa về tượng trưng chớ không phải là tả thực.

Sự giải thích quanh co ấy cũng giống như hậu nho đối với Kinh Thi mà trên đây đã nói. Thực ra thì Nhã Ca có thể là một thứ sách về văn học của quốc dân Hê-bơ-rơ đời thượng cổ, trong đó chỉ nói về sự trai gái yêu nhau cũng được, chứ không dính dấp gì với việc Đức Chúa Trời.

Ngày nay nhờ khoa học xương minh (*) trong xã hội nào cũng thấy bớt sự đè ép nặng nề của tông giáo và đạo đức cổ; nên những thơ tình trong kinh điển mới được phục lại cái bản sắc của nó. Ngày nay các nhà học giả tân tiến bên Trung Quốc và các nhà tông giáo khai thông ở khắp cả thế giới đều chịu coi thơ Quan thư và thơ Nhã Ca là những bài thơ tình.

PHAN KHÔI 

 (*) Làm sáng tỏ