Nguồn thu từ đua ngựa ở Sài Gòn không thua gì xổ số kiến thiết quốc gia. Số tiền thu được, sau khi trừ chi phí sân bãi, lương bổng cho nhân sự của Hội Kỵ Mã, tiền chung cho chủ ngựa thắng, còn lại nộp cho ngân sách Quốc gia. Nếu Hội Kỵ Mã khai gian, ngoài chuyện xử phạt tù giam, còn phải bồi hoàn số tiền gấp ba lần cho chính phủ.

Hội Kỵ Mã Sài Gòn nhìn bên hông đường Ngyễn Du (Ảnh: Siagon-Vietnam-fr) 

Hội Kỵ Mã tổ chức ngựa đua tại Sài Gòn, thời Pháp có tên là Cercle Hippique Saigonnais, thành lập năm 1912. Dân Sài Gòn không phải ai cũng biết về Hội Kỵ Mã mặc dù nó có một trụ sở khá bề thế hướng ra mặt đường Lê Văn Duyệt (thời VNCH là trụ sở Tổng Liên Ðoàn Lao Công VN) và một dãy chuồng ngựa xây bằng gạch, quét vôi màu hồng nhạt hướng ra đường Nguyễn Du. Phần đất xây dựng của Hội Kỵ Mã khá rộng lớn, là một phần của Vườn Tao Ðàn.

Từ thời VNCH, Hội Kỵ Mã dời về số 93 đường Công Lý (Nam Kỳ Khởi Nghĩa) nhưng dãy chuồng ngựa bên hông đường Nguyễn Du vẫn còn chăn giữ, huấn luyện ngựa và đặc biệt có ba con ngựa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Xin nói thêm là, ông Thiệu thích ngựa đua, còn phó TT Nguyễn Cao Kỳ lại mê đá gà, thành lập cả một trường gà ở Long An.

Ðua ngựa có từ thời Pháp mới chiếm Sài Gòn với mục đích phục vụ giải trí cho sĩ quan và binh lính và xem đó là một môn thể thao thuần tuý. Ban đầu, môn thể thao này được Cercle Sportif Saigonnais điều khiển các hoạt động giải trí, sau khi Hội Kỵ Mã được thành lập (1912) thì mới sắp đặt tất cả hoạt động từ việc nhập ngựa giống và tổ chức các cuộc đua cũng như về mặt tài chánh.

Các cuộc đua thường tổ chức ở Ðồng Tập trận (góc Công trường Dân Chủ ngày nay). Năm 1932 mới chuyển về Trường đua Phú Thọ do một số thương nhân người Việt và Hoa thấy đua ngựa cá cược thu được một lợi nhuận lớn và đóng góp ngân sách cho chính phủ rất nhiều. Do vậy chính quyền Pháp tại Sài Gòn đồng ý cấp cho một phần đất rất lớn (rộng 44 mẫu) tại làng Phú Thọ để xây dựng trường đua. Tuy nhiên, trong thời gian này, luật lệ đua ngựa vẫn còn bỏ ngỏ.

Vật lưu niệm hội viên của Cercle Hippique Saigonnais năm 1946 (Ảnh: Tư liệu)

Theo một tài liệu về việc tổ chức đua ngựa ghi nhận vào năm 1942, chính quyền Bảo Ðại bắt đầu ban hành văn bản về đua ngựa và nuôi ngựa đua, nhưng rất sơ sài. Có lẽ lúc bấy giờ họ cũng chưa lường được hết sự phức tạp của bộ môn đua ngựa. Cho nên một năm sau đó, văn bản trên được sửa đổi theo hướng quy định thành Luật đua ngựa và cá ngựa chặt chẽ và cụ thể hơn.

Xem thêm:   Chuyện Cầu Bình Lợi

Cũng cần nói thêm vai trò của Hội Kỵ Mã thời Pháp với mục đích giải trí thể thao là chính, đua ngựa chỉ là phần phụ để thu thêm kinh phí hoạt động bên cạnh số tiền niên liễm của các hội viên gia nhập Hội Kỵ Mã Sài Gòn. Có thể hiểu Hội Kỵ Mã tổ chức chuyện đua ngựa chuyên nghiệp lẫn cỡi ngựa dạo chơi của những người yêu thích trên các sân tập khi lịch đua trống chỗ. Do vậy, hội viên Hội Kỵ Mã hầu hết là người Pháp. Trong thời gian chiến tranh Ðông Dương, quân Nhật vào Sài Gòn chiếm đóng Hội Kỵ Mã một thời gian. Ðến tháng 8/1945 quân Anh vào giải giáp, quân Nhật trả lại những chú ngựa đang nuôi tại Hội Kỵ Mã cho người Pháp.

Ðến thời VNCH, Hội Kỵ Mã chỉ có 130 hội viên nhưng trong đó cũng chỉ có 1/3 hội viên là người Việt, số đông còn lại là hội viên người nước ngoài và kể cả một số quan chức dân sự lẫn quân sự người Mỹ đang làm việc tại Sài Gòn. Chủ tịch Hội là ông Ngô Khắc Tỉnh, Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục và Thanh Niên.

Ðua ngựa cá cược chỉ phát triển mạnh vào thời VNCH. Bằng chứng là ngay sau khi nhận chuyển giao chính quyền từ Hội đồng quân nhân cách mạng, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã yêu cầu ngành chăn nuôi đầu tư phát triển ngựa đua. Hưởng ứng lời kêu gọi, Chánh Hội trưởng Hội đua ngựa Sài Gòn Lý Văn Mạnh được phép nhập 5 con ngựa giống Anglo (Ả Rập) về phối giống cho đàn ngựa nhà và được đệ trình lên Tổng thống với “mức sản xuất đáng khích lệ”. Kế đến, chính quyền VNCH đã lập một Ủy ban Kiểm soát liên bộ, thường trực bao gồm đại diện các Bộ Nội vụ (giữ chức Chủ tịch), Bộ Tài chánh, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia và Bộ Cải cách Ðiền địa và Phát triển Nông thôn Ngư mục.

Trụ sở Hội Kỵ Mã Sài Gòn đến thời VNCH chuyển thành trụ sở của Tổng Liên Đoàn Lao Công VN (Ảnh: Internet)

Ngoài chuyện ủng hộ phát triển môn đua ngựa để tăng ngân sách cho Quốc gia, TT Thiệu cũng là người mê ngựa và thú cưng. Một tài liệu của tác giả Kỳ Phương về việc nhận vật nuôi của TT sau khi Sài Gòn thất thủ vẫn còn lưu giữ khá đầy đủ về nguồn gốc của chúng khi tiếp nhận khu nhà mát của Tổng thống Thiệu ở Thủ Ðức, người ta thấy có rất nhiều loại thú nuôi, trong số đó có một con voi độ 4 tuổi và 3 con ngựa dùng để cưỡi có tên: Bạch Mã (ngựa cái), Hồng Mã và Thi Thi (ngựa đực). Những thông tin ít ỏi liên quan đến những con thú này có thể vẫn còn lưu ở Thảo cầm viên Sài Gòn.

Xem thêm:   Tameichi Hara - Khu trục hạm xứ mặt trời mọc (kỳ 30)

Trong một bức thư viết tay của Tổng Lãnh sự VNCH ở Hồng Kông, Vương Hòa Ðức, phúc đáp cho Chánh văn phòng Phủ Tổng thống Võ Văn Cầm đề ngày 29-11-1969, nói về việc tìm mua một con ngựa trắng để làm quà cho Tổng thống Thiệu nhân ngày sinh nhật thứ 47 (ngày 05-4-1970). Theo thư này, hiện tại ở Jockey Club của Hồng Kông có một con ngựa trắng 2 tuổi, gốc Australia, giá 2,000 đôla Úc. Con ngựa này bị ông Cầm chê là còn “quá non”.

Ðến ngày 20-2-1970, ông Ðức gởi thư cho ông Cầm, thông báo là đã tìm được con ngựa trắng và khẳng định Tổng thống sẽ yêu thích. Theo đó, con ngựa này vừa tròn 6 tuổi, giống Ả Rập được Sở nuôi ngựa Arundel Farm Pty Limited (Australia) nuôi dưỡng, đúng theo tiêu chuẩn chiều cao và nhảy rào giỏi, đã được huấn luyện thuần thục. Giá con ngựa này là 3,000 đôla Úc.

Nếu trường hợp nhờ được cơ quan quân sự Úc cho “quá giang” bằng không vận chở thẳng về Sài Gòn thì rất tiện lợi. Bằng không, sẽ phải gởi con ngựa này sang Hồng Kông. Việc này có phần phức tạp, vì phải nhờ các nhà nuôi ngựa ở Hồng Kông chăm sóc ít nhất một tuần lễ để tìm phương tiện chở về nước. Cũng nhân dịp này, tiện thể sẽ chở luôn 2 con ngựa trước đây đã mua còn gửi chăm sóc ở Jockey Club về nước luôn.

Con ngựa Bạch Hồng của TT Nguyễn Văn Thiệu (Ảnh: Internet)

Sau nhiều lần thư từ qua lại giữa Chánh văn phòng Phủ Tổng thống với Tổng Lãnh sự Vương Hòa Ðức, số phận 3 con ngựa mãi đến ngày 22-10-1973, từ Hồng Kông mới về đến Sài Gòn bằng hàng không Air Việt Nam với phí tổn chuyên chở 2,000 Mỹ kim, nhưng được quy trả bằng đồng bạc Việt Nam. Ngay sau khi 3 con ngựa về đến Sài Gòn, ông Cầm giao chúng cho Tổng thư ký Hội Kỵ Mã Sài Gòn là Giáo sư Nguyễn Duy Thu Lương chăm sóc đúng một tháng, sau đó chuyển lên khu nhà mát.

Xem thêm:   Chuyện giặt ủi ngày xưa

Riêng về việc phát triển mạnh bộ môn đua ngựa cá cược vào thời điểm 1971 ghi nhận như sau: “Trong danh sách chủ ngựa đăng ký với Hội đua ngựa Sài Gòn có đến 407 chủ ngựa, trong đó có rất nhiều người đăng ký 5 – 6 con ngựa đua. Cụ thể, chủ ngựa thuộc vùng Ðô Thành Sài Gòn (Phú Lâm, Cây Da Sà, Phú Thọ và Bình Chánh): 103 người; chủ ngựa vùng Hóc Môn (Thuận Kiều, Bà Ðiểm, Trung Chánh, Chợ Cầu): 118 người; chủ ngựa vùng Hậu Nghĩa (Ðức Hòa, Ðức Lập, Củ Chi, Mỹ Hạnh, Ðức Huệ): 77 người; chủ ngựa vùng Gò Vấp (Xóm Thơm, Xóm Gà, An Nhơn, An Hội, Thông Tây Hội): 42 người và chủ ngựa vùng Tân Bình (Bà Quẹo, Phú Nhuận, Gò Mây, Vĩnh Lộc): 67 người.

Theo hồ sơ của Hội đua ngựa Sài Gòn từ tháng 1-1972 đến tháng 3-1975, buổi đua đặc biệt (ngày lễ) trong tháng thường được tổ chức vào thứ Năm, 16% tiền đánh cá của buổi đua này được dùng để tổ chức 5 ngày lễ lớn trong năm: giỗ Tổ Hùng Vương, lễ Lao động, lễ Phật Ðản, Kỷ niệm 1-11 và lễ Giáng sinh. Ở những tháng không có ngày lễ kỷ niệm, số tiền trên được chuyển cho các tổ chức xã hội từ thiện và được chuyển một phần cho Hội Phụ nữ Việt Nam phụng sự xã hội do bà Nguyễn Thị Mai Anh, phu nhân của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch.

TN