Giáo sư Nguyễn Quốc Trị sinh năm 1929 tại Huế, tốt nghiệp Quốc gia Hành chánh và Đại học Luật Sàigòn. Ông là viện trưởng cuối cùng của Học viện Quốc gia Hành chánh VNCH. Là hậu duệ đời thứ 3 của Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường. Năm 2013, ông cho xuất bản tại Hoa Kỳ bộ sách Nguyễn Văn Tường và cuộc chiến chống đô hộ Pháp của nhà Nguyễn. Đến năm 2020, Nxb Văn hóa Khai Tâm tái bản tại Việt Nam. Trong tổng tập Vua Gia Long và người Pháp (Nxb Hồng Đức 2017), nhà phê bình Thụy Khuê, cũng là nhà biên khảo lịch sử đã dành nguyên Chương 2 để giới thiệu bộ sử này.

[Trần Vũ]

Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường

Bộ sách lịch sử “Nguyễn Văn Tường (1824-1886) và cuộc chiến chống đô hộ Pháp của nhà Nguyễn” xin gọi tắt là Nguyễn Văn Tường của Nguyễn Quốc Trị, do tác giả xuất bản năm 2013 tại Maryland, Hoa Kỳ, đáp ứng đúng nhu cầu nhìn lại và viết lại lịch sử.

Cảm tưởng đầu tiên của người đọc là sự ngạc nhiên trước một công trình nghiên cứu mới mà từ lâu những người quan tâm đến lịch sử vẫn hằng chờ đợi, không chỉ đối với giai đoạn hiện đại, mà cả về cuộc chiến chống Pháp của nhà Nguyễn, bởi hầu hết chúng ta, vì thiếu sách sử, vì không đọc được chữ Hán, vì kém Pháp văn, đã trưởng thành trong tình trạng thiếu hiểu biết lịch sử nước mình.

Nguyễn Quốc Trị, sinh năm 1929, xuất thân Đại học Quốc gia Hành chánh và Đại học Luật khoa Sài Gòn. Là viện trưởng cuối cùng của Học viện Quốc gia Hành chánh. Là cháu đời thứ ba của quan phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường. Với mục đích tìm hiểu những gì “ông cố” đã làm để gây tiếng xấu trong lịch sử, Nguyễn Quốc Trị không những đã truy tìm hành trình đích thực của Nguyễn Văn Tường mà còn điều tra lại những sự kiện lịch sử xảy ra dưới triều Nguyễn, đánh đổ những thành kiến sai lầm về các vua Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức. Ông tố cáo những giả trá trong cách hành xử của các nhà chính trị, quân sự, giáo sĩ Pháp, sự bóp méo lịch sử của những ngòi bút thuộc địa và hội thừa sai, sự cố tình bôi nhọ triều Nguyễn nói chung, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết nói riêng, cốt để trình bày một bộ mặt lịch sử có lợi cho chế độ thực dân.

Nhờ những bản tấu của Nguyễn Văn Tường, do 3 người cháu nội của quan phụ chính sao chép lại từ các bộ, viện và được phổ biến trong cuộc hội thảo chủ đề Nhóm chủ chiến trong triều đình Huế cuối thế kỷ XIX, tổ chức tại Đại học Sư phạm, Sài Gòn, ngày 12/11/1991, mà người ta biết rằng chính Nguyễn Văn Tường là tác giả sách lược “hòa để thủ, thủ để mưu chiến”, mà các triều Tự Đức, Kiến Phúc và Hàm Nghi đã ứng dụng để đối phó với cuộc xâm lăng của Pháp[1].

Từ năm 2002, Nguyễn Quốc Trị đã chuyên tâm nghiên cứu, sao lục tài liệu ở các tàng thư Pháp, Mỹ, đối chiếu với kho tư liệu Việt. Bộ sách của ông đồ sộ, đưa ra nhiều vấn đề, đi vào nhiều chi tiết nhưng cách sắp đặt chưa được hệ thống, cách trình bày còn nhiều khiếm khuyết, đôi khi rối rắm. Nếu tác giả chia sách làm nhiều quyển (hoặc nhiều chương mục), sắp xếp theo chủ đề hoặc theo trật tự ngày tháng, có lẽ độc giả dễ tiếp nhận hơn. Ngoài ra, sách viết với chủ ý bạch hoá những vấn đề đưa ra, cho nên phần diễn lại lịch sử đích thực đôi khi bị chìm đi. Có lẽ sau khi đã đẩy lui những thông tin sai lầm, thiết tưởng tác giả nên tóm tắt lại mỗi vấn đề, mỗi sự kiện, để làm nổi trội bộ mặt lịch sử, sau khi đã được tìm tòi, phân tích, minh chứng.

Nội dung tác phẩm

Bộ sách gồm hai tập, dày 1,138 trang khổ lớn (21×27), viết về sự nghiệp Nguyễn Văn Tường, vị phụ chính đại thần đã bôn ba lo việc nước nhưng bị các sử gia Pháp Việt chôn vùi như một người “tham ô, hà lạm” thậm chí “bán nước” vì đã ký hòa ước Giáp Thân 1884, nhận sự bảo hộ của Pháp. Tác giả trình bày sách lược chống Pháp của Nguyễn Văn Tường: “hòa để thủ, thủ để mưu chiến”, mà theo ông, đã được vua Tự Đức chấp nhận; đồng thời mở rộng thêm nhiều vấn đề khác, giải mã những sai lầm về các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, tìm hiểu những khúc mắc trong mối quan hệ chính trị, ngoại giao và quân sự của triều Nguyễn với Pháp.

Tập I, tác giả dẫn lại hành trình Nguyễn Văn Tường từ 1862 đến năm ông mất, 1886. Khi Nguyễn Văn Tường bắt đầu có trách nhiệm chính trị và ngoại giao, thì Pháp đã chiếm xong 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ. 1867, Pháp chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây. 1868, Nguyễn Văn Tường dâng kiến nghị đầu tiên lên vua Tự Đức, ngụ ý: thường thì phải đánh rồi mới thủ, thủ rồi mới hòa; nhưng tình thế đã nguy ngập, ta phải hòa trước để thủthủ rồi mới mưu chiến[2]. Con đường chính trị và ngoại giao này sẽ được Nguyễn Văn Tường áp dụng gần 20 năm, dưới triều Tự Đức, khi đánh khi hòa, cho tới khi ông bị Pháp bắt, đày đi Tahiti năm 1885 và mất năm 1886.

Tác giả phản bác những luận điểm xuyên tạc của sử gia thuộc địa, được sử gia Việt chép lại, về công ơn của Bá Đa Lộc đối với vua Gia Long, về sự vu khống: vua Gia Long tàn bạo, nhỏ nhen, đối xử tàn tệ với nhà Lê hoặc vua Minh Mạng bội bạc, quên ơn Pháp, giết đạo, giết hại công thần, diệt dòng trưởng Hoàng tử Cảnh; Nguyễn Văn Tường tư thông với Học phi, giết vua Kiến Phúc… Ông chứng minh những vu cáo của sử gia và chính quyền thuộc địa đối với Nguyễn Văn Tường qua việc sử dụng thông tin sai lầm và dùng văn kiện giả mạo. Đồng thời đưa ra những chứng từ xác định tư cách và hành động của các vua Thiệu Trị, Tự Đức, bị bôi nhọ là bạo chúa.

Xem thêm:   Thi sĩ Huyền Chi & bóng thuyền viễn xứ muôn phương

Tập II, tiếp tục chứng minh những luận điểm xuyên tạc Nguyễn Văn Tường và các vua triều Nguyễn. Tác giả phản bác sự quy kết Nguyễn Văn Tường những tội: diệt đạo, đi với công giáo để giết Văn Thân, giết công thần Trần Tiễn Thành, giết 3 vua: Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc. Những vấn đề nêu ra đều được giải quyết bằng sự đối chiếu văn bản để làm bật sự thực: Trần Tiễn Thành bị Kỳ ngoại hầu Hồng Chuyên giết chết. Dục Đức bị truất phế vì theo Pháp. Hiệp Hòa bị giết vì mật thông với Khâm sứ de Champeaux để diệt phe chống Pháp. Vua Kiến Phúc chết vì bệnh.

Riêng chương 5, tựa đề: Ai gian trá: Người Pháp hay vua quan triều Nguyễn? đã là một cuốn sách nghiên cứu về hai sự kiện lịch sử chính trong cuộc xâm lăng Bắc Hà, gây ra cái chết của hai vị đại thần Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu. Nguyễn Quốc Trị đã có những khám phá quan trọng:

1/ Trong vụ đánh Hà Nội lần thứ nhất: Francis Garnier tấn công bất ngờ, không hề đưa tối hậu thư. Nguyễn Tri Phương, nhận lệnh vua Tự Đức, đang thương lượng, không động thủ. Giám mục Puginier huy động giáo dân tiếp tay Francis Garnier.

2/ Trong vụ đánh Hà Nội lần thứ hai: Henri Rivière bất chấp hiệp ước 1874, dùng thủ đoạn và sự nội công của giới thừa sai.

Cho tới nay, vì thiếu sự giải thích minh bạch, chúng ta không hiểu tại sao Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu lại có thể thua trận một cách dễ dàng như thế, trước hai kẻ giang hồ như Francis Garnier và Henri Rivière. Đây không phải là lần đầu tiên quân Pháp dùng những thủ đoạn lừa gạt để tấn công. Khi đánh Đà Nẵng lần đầu năm 1847, dưới thời vua Thiệu Trị, Lapierre và Rigault de Genouilly cũng đã đánh lén: bất ngờ bắn phá 5 thuyền đồng của vua ở vịnh Đà Nẵng, trong lúc vua đang viết thư trả lời. Lapierre đã đánh lén rồi còn nhờ giám mục Forcade biện minh cho hành động nhơ nhuốc này. Chính vì trận ấy mà vua Thiệu Trị phẫn uất, mấy tháng sau mất và việc giao thiệp với Pháp bị đình chỉ trong gần 10 năm.

Thủ pháp bôi nhọ các vua triều Nguyễn triệt để nhắm vào vua Minh Mạng. Tại sao vua Minh Mạng lại bị giới thừa sai và sử gia thuộc địa cay độc kết án? Bởi vì Minh Mạng có tài nội trị, chủ trương ngăn ngừa ngoại xâm bằng một đường lối chính trị và quân sự vững chắc, chặt chẽ và toàn diện. Để bôi nhọ Minh Mạng, sau khi mô tả việc xử linh mục Gagelin (bị thắt cổ), với những chi tiết cực kỳ dã man (theo lời kể của các giáo sĩ), Gosselin còn thêm thắt: “Tuy nhiên Minh Mạng dấn thân vào đủ loại tội ác. Người ta xác định, nhưng tôi chưa thể kiểm chứng sự xác thực của việc này, rằng ông ta loạn luân với chị dâu, vợ Hoàng tử Cảnh; khi bà này có mang trông thấy, ông ta kết án tử hình người đàn bà bất hạnh cùng với hai con của bà, là cháu ruột ông ta, cho họ được hưởng “tam ban triều điển” là đặc ân trong cái chết: ba thước lụa hồng để thắt cổ hay treo cổ, một lọ thuốc độc và một thanh gươm để cắt cổ”[3].

Chúng tôi xin nhấn mạnh: Lối trình bày “sự kiện” như trên, thường thấy trong thư từ hoặc báo cáo của các thừa sai gửi hội truyền giáo, và được người viết chia động từ trong thể điều kiện (conditionnel), tức là chưa chắc hoặc chỉ nghe nói, nhưng khi được các sử gia chép lại, nó trở thành sự thực! Việc “vua Minh Mạng tư thông với chị dâu” đầu tiên là do Trương Vĩnh Ký, được nhà dòng dạy, coi Minh Mạng là bạo chúa, đưa ra, rồi Gosselin chép lại.

Để lập lại sự thực, Nguyễn Quốc Trị dẫn những chứng cớ ghi trong Đại Nam Thực Lục và Liệt Truyện: vợ Hoàng tử Cảnh là Tống Thị Quyên loạn luân với con trai Mỹ Đường (Hoàng tôn Đán). Lê Văn Duyệt biết chuyện tâu lên. Đây là một trong những tội nặng nhất về hình sự, Lê Văn Duyệt được lệnh dìm chết Tống Thị Quyên và Mỹ Đường bị cấm không được vào chầu. Người em là Mỹ Thùy (Hoàng tôn Kính) chết vì bệnh dịch tả. Sau khi phạm thêm một tội nữa, Mỹ Đường bị biếm làm thường dân; mất năm 1849, dưới thời Tự Đức[4]. Ngoài việc phản bác những bôi nhọ cá nhân, Nguyễn Quốc Trị còn đưa ra những nghi vấn có tầm vóc quốc gia và tìm cách trả lời, như:

1- Sự giúp đỡ của Bá Đa Lộc có quyết định sự nghiệp của Nguyễn Ánh không?

Article Premier: L’Annam reconnait et accepte le protectorat de la France avec les conséquences de ce mode de rapports au point de vue du droit diplomatique européen, c’est-à-dire que la France présidera aux relations de toutes les puissances étrangères, y compris la Chine, avec le gouvernement annamite, qui ne pourra communiquer diplomatiquement avec lesdites puissances que par l’intermédiaire de la France seulement[5] (Điều Một: “Nước Nam nhìn nhận và chấp nhận sự bảo hộ của nước Pháp, với những hậu quả của thể thức này theo luật ngoại giao Âu Châu, nghĩa là nước Pháp sẽ điều khiển các mối giao thiệp của nước Nam với tất cả các cường quốc bên ngoài, kể cả nước Tầu, chính phủ An Nam chỉ được quan hệ ngoại giao với những cường quốc ấy qua trung gian của nước Pháp mà thôi”.)

Chữ bảo hộ (protectorat) trong Điều Một của hoà ước Harmand chỉ bao hàm ý nghĩa ngoại giao mà thôi. Nhưng Hòa ước Giáp Thân, ký ngày 6/6/1884, giữa Patenôtre và Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật, Tôn Thất Phan, mà Nguyễn Quốc Trị chụp lại được, viết như sau:

Xem thêm:   Facebook có gì ngộ (05/30/2024)

Article I

L’Annam reconnait et accepte le protectorat de la France.

La France représentera l’Annam dans toutes ses relations extérieures.

Les Annamites à l’étranger seront placés sous la protection de la France[6]

(Điều I

Nước Nam nhìn nhận và chấp nhận sự bảo hộ của nước Pháp.

Nước Pháp sẽ đại diện cho nước Nam trong tất cả các mối bang giao bên ngoài.

Người An Nam ở nước ngoài sẽ được đặt dưới sự bảo hộ của nước Pháp”).

Điều I của hòa ước Patenôtre có nghĩa là:

1- Nước Nam nhìn nhận và chấp nhận sự bảo hộ của Pháp (cả nội trị, lẫn ngoại giao).

2- Nước Pháp sẽ đại diện cho nước Nam ở bên ngoài (ngụ ý: đối với thế giới, nước Pháp thay thế nước Việt).

3- Người Việt ở nước ngoài sẽ được đặt dưới quyền bảo hộ của Pháp (ngụ ý người Việt ở nước ngoài cũng trở thành công dân bị trị).

Giáo sư Nguyễn Quốc Trị

Với mục đích thành lập một hòa ước mới, bớt khắt khe hơn, để bên Việt có thể chấp nhận, thì quả là hòa ước Patenôtre đã đi ngược lại: Từ sự bảo hộ về ngoại giao trong hoà ước Harmand, đã tiến sang, bảo hộ cả nội trị lẫn ngoại giao và người Việt ở nước ngoài sẽ trở thành thuộc dân của Pháp.

Tại sao Nguyễn Văn Tường lại chịu ký một hòa ước như vậy? Nếu nhìn bản Hán văn mà Nguyễn Quốc Trị chụp lại[7] được dịch trong Đại Nam Thực Lục, thì Điều I, được viết như sau:

“Khoản thứ 1- Nước Đại Nam tự nhận nước Đại Pháp giúp đỡ, nghĩa là nước Đại Nam có giao thông với nước nào, thì nước Đại Pháp giúp đỡ công việc và nhân dân nước Đại Nam có ở nước ngoài thì Đại Pháp cũng giúp đỡ.”[8]

Khoản thứ 1 này hoàn toàn không có nghĩa như Điều I trong bản tiếng Pháp của Patenôtre: Việt Nam chỉ nhận sự giúp đỡ của Pháp và sự giúp đỡ này giới hạn trong địa hạt ngoại giao mà thôi. So với hoà ước Harmand, chữ giúp đỡ nhẹ hơn chữ bảo hộ, còn điều kiện ngoại giao vẫn y như thế.

Ngoài ra, bản tiếng Pháp của Patenôtre, Điều XIX, còn ghi thêm: “En cas de constestations, le texte francais fera seul foi” (Trong trường hợp tranh chấp, chỉ bản tiếng Pháp là có giá trị). Có lẽ các quan tin tưởng vào sự chân thực của người Pháp nên cũng viết Khoản thứ 19, trong ý tương tự.

Và đây là sự giải thích của Nguyễn Quốc Trị[9]:

1- Nguyễn Văn Tường và các quan nhất quyết đòi thay chữ bảo hộ bằng chữ bảo trợ hay bang trợ, tức là giúp đỡ chứ không nhận sự thống trị của Pháp trên nước Nam. Điều này được xác định trong một văn kiện của triều đình Huế, dịch ra tiếng Pháp mang tên Projet de la Cour de Huế, (Dự án của triều đình Huế) lưu trữ ở văn khố Bộ ngoại giao Pháp, được Võ Đức Hạnh phát hiện[10].

2- Cuộc tranh luận về từ ngữ đưa đến bế tắc, không bên nào chịu nhượng bộ. Patenôtre đánh điện xin chỉ thị của Paris, Jules Ferry trả lời trong một điện văn mật (codé) gửi ngày 3/8/1884: “Le texte francais faisant foi, vous pouvez accepter le mot baluttro [bảo trợ] si vous jugez nécessaire, Ferry” (Chỉ bản tiếng Pháp là có giá trị, ông có thể chấp nhận chữ bảo trợ nếu cần, Ferry). Nguyễn Quốc Trị tìm thấy điện văn này trong văn khố Bộ ngoại giao Pháp.

Như vậy, hòa ước Patenôtre có hai bản, chỉ bản tiếng Pháp là có giá trị mà thôi. Bản chữ Hán viết sao cũng được, miễn làm vừa lòng phía Việt.

Jules Ferry dùng thủ đoạn này, vì ông dự trù rằng khi thi hành hoà ước thì Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết sẽ không còn ở ghế phụ chánh nữa. Với một ông vua thân Pháp, thì sẽ không gặp trở ngại gì. Quả đúng như vậy, đầu năm 1886, khi Nguyễn Văn Tường bị đày đi Tahiti, Pháp mới đưa bản hòa ước cho vua Đồng Khánh chuẩn y. Sau đó không ai nêu lại vấn đề khác biệt giữa hai bản Pháp-Việt nữa.

3- Nguyễn Văn Tường có thể đã biết rõ âm mưu về sự khác biệt giữa hai văn bản, nhưng đành phải ký, vì cũng như với hòa ước Harmand, lần này Pháp cũng đem chiến thuyền vào uy hiếp Huế. Pháp đưa tối hậu thư bắt buộc phải ký trong vòng 24 tiếng đồng hồ, nếu không họ sẽ dùng biện pháp võ lực. Tại trung tâm văn khố hải ngoại Aix-en-Provence, Nguyễn Quốc Trị tìm được tờ trình về bộ Hải Quân của viên đại tá, dưới quyền đề đốc Courbet, cho biết: “Hòa ước Patenôtre chỉ được Nguyễn Văn Tường ký một cách miễn cưỡng sau khi nhận được tối hậu thư 24 giờ của phía Pháp”. Tối hậu thư này chưa từng thấy ghi lại ở đâu. Đọc Thực Lục, Nguyễn Quốc Trị thấy có chỗ nói thoáng qua về việc người Pháp hăm doạ sẽ để cho quan võ giải quyết vấn đề, và ngày hôm sau thì thủ tục ký kết hòa ước đã bắt đầu, không thương thuyết gì nữa.

Tóm lại, để ép Nguyễn Văn Tường ký hiệp ước này, Pháp đã dùng những thủ đoạn sau đây: Cứ cho viết bản chữ Nho, theo đúng ý của triều đình Huế. Tức là Việt Nam chỉ nhận sự bang trợ ngoại giao của Pháp. Còn bản tiếng Pháp ghi điều gian trá: Việt Nam chấp nhận nền bảo hộ của Pháp. Và để ăn chắc chắn, viết trong điều XIX câu: khi có tranh chấp, chỉ bản tiếng Pháp là có giá trị mà thôi. Sau cùng, dùng tối hậu thư đe dọa, để ép buộc triều đình phải ký ngay, nếu không quân Pháp sẽ tấn công kinh thành: Ngoài 2 đại đội tháp tùng Patenôtre, còn có quân Pháp đóng ở Thuận An và hạm đội của tổng tư lệnh Courbet đóng ở ngoài khơi cửa Thuận.

Xem thêm:   Miệng Nhà Quan ngày 6 tháng 6 năm 2024

Chỉ vài tháng sau khi hiệp ước Patenôtre 6/6/1884 được ký kết, Tổng trú sứ (Résident-Général) Rheinat dựa vào quyền “bảo hộ” đòi truất phế vua Hàm Nghi, vì lên ngôi mà không được Pháp cho phép, rồi người kế nhiệm Lemaire đòi hỏi sự bổ nhiệm Phụ chánh và Thượng thư cũng phải được Tổng trú sứ chấp thuận. Tất cả những uất ức này dẫn Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đến quyết định chống lại: Tôn Thất Thuyết đi kháng chiến, Nguyễn Văn Tường ở lại tìm cách nghị hoà.

Sau biến cố Mang Cá, 4-5/7/1885, kinh thành thất thủ, vua Hàm Nghi xuất bôn kháng chiến trong 3 năm, chỉ đến khi vua bị bắt năm 1888, Việt Nam mới hoàn toàn mất quyền tự chủ, nhận sự bảo hộ của Pháp, theo bản Pháp văn của hoà ước Patenôtre.

Thư Silvestre gửi Lemaire: kế hoạch truất phế vua Hàm Nghi

Tài liệu quý thứ nhì mà Nguyễn Quốc Trị tìm được là bức thư viết tay của Silvestre gửi Lemaire: Silvestre, Giám đốc chính trị và dân sự, viết thư cho Lemaire, Tổng trú sứ, ngày 19/11/1884, đề nghị kế hoạch truất phế vua Hàm Nghi.

Thư này viết sau khi vua Hàm Nghi lên ngôi (ngày 2/8/1884) được 3 tháng rưỡi. Tài liệu quan trọng, chứa nhiều thông tin về tình hình chính trị và quân sự sau khi vua Tự Đức mất. Trong thư, Silvestre coi hai phụ chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết là đích danh thủ phạm chính sách chống Pháp. Vì coi Nguyễn Văn Tường kẻ thù lợi hại hàng đầu, Silvestre kể đủ mọi tội tham tiền, tham nhũng để bêu xấu Nguyễn Văn Tường, xác định ông Tường là kẻ không ra mặt nhưng cầm cương đằng sau, trách nhiệm tất cả những mưu đồ, liên kết với quân Tầu làm mặt trận thống nhất chống Pháp. (Lúc này Fournier đã ký với Lý Hồng Chương hiệp ước Thiên Tân (11/5/1884): Tầu công nhận VN là thuộc địa của Pháp và sẽ rút quân về).

Sivestre khám phá chiến lược chống Pháp của triều đình Huế qua hai nguồn tin đồng quy: tin tức tình báo và thư giám mục Puginier gửi tổng tư lệnh quân đội viễn chinh ngày 6/11/1884, theo đó, thì cuộc nổi dậy ở Huế, là do Nguyễn Văn Tường bí mật chỉ đạo: Tôn Thất Thuyết sẽ đưa vua Hàm Nghi ra Cam Lộ. Hoàng Kế Viêm, Đề đốc Ngô, Lưu Vĩnh Phúc … được giao trọng trách đánh chiếm các vùng Hưng Hoá, Thanh Hoá, Ninh Bình, Sơn Tây, Tuyên Quang.

Silvestre đề nghị với Lemaire giải pháp: Nếu hai phụ chính đưa vua Hàm Nghi rời Huế thì Pháp lập tức đưa Chánh Mông (sau là vua Đồng Khánh) lên ngay, tuyên bố truất phế Hàm Nghi, lập chính phủ mới với 6 tên tuổi: Đoàn Văn Bình, Nguyễn Thuật, Cao Hữu Sung, Lê Tấn Thông, Đặng Đức Địch, Nguyễn Hữu Độ, là những người đã từng giữ chức tuần phủ hoặc thượng thư nhưng bị triều đình giáng chức hoặc cách chức vì có tội.

Nửa năm sau, xảy ra biến cố Mang Cá ngày 4-5/7/1885, kinh thành thất thủ, vua Hàm Nghi ra Cam Lộ cầm đầu lực lượng kháng chiến trong 3 năm mới bị bắt, tất cả đã xảy ra gần đúng như dự báo của Silvestre. Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật, thuộc Cơ Mật Viện và Tôn Thất Đính (cha Tôn Thất Thuyết) bị bắt, đi đày ở Tahiti. Phạm Thận Duật chết trên tàu. Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Đính, mất ở Tahiti năm sau (1886). Phong trào Cần vương tiếp tục chống Pháp đến khi Phan Đình Phùng mất (1895) mới thực sự tan rã.

Bộ sử Nguyễn Văn Tường của Nguyễn Quốc Trị là một công trình nghiên cứu thận trọng và chi tiết, mở đầu cho một khuynh hướng tìm lại, viết lại và đọc lại lịch sử Việt Nam. Tác giả không chỉ quan tâm đến việc kể lại sự kiện lịch sử, mà khảo sát những gì đã được viết về sự kiện này, người ta căn cứ vào đâu để đưa ra những luận chứng như thế. Tuy viết về nhân vật chính là Nguyễn Văn Tường, nhưng thực sự Nguyễn Quốc Trị đã trải dài lịch sử đến gần như cả ba triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.

Nguyễn Văn Tường và cuộc chiến chống đô hộ Pháp của nhà Nguyễn sẽ là tác phẩm sử học đầu tiên viết theo lối nhìn mới thoát hẳn các khuôn mẫu cũ. Tác giả đã điều tra đến tận nguồn nhiều sự việc, nhiều biến cố lịch sử; dĩ nhiên ông chưa làm được tất cả, và lối viết của ông chưa được chặt chẽ, có chỗ dùng những tài liệu chưa chính xác, nhưng những gì ông đem ra ánh sáng cũng đủ khơi mào cho một khuynh hướng nghiên cứu lại lịch sử, trung thực và đào sâu hơn, để trả lại giá trị cho đại thần Nguyễn Văn Tường và triều đại nhà Nguyễn, nhất là vua Tự Đức, trong suốt thời kỳ trị vì, đã tìm mọi cách chống lại sự xâm lăng của Pháp.

TK

Vua Gia Long và Người Pháp (Chương 2)

[1] Ở trong nước, Trần Xuân An, hậu duệ đời thứ năm của Nguyễn Văn Tường có viết bộ truyện ký tựa đề Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (nxb Văn Nghệ tpHCM, 2004) theo lối lịch sử tiểu thuyết, dựa trên những sự kiện có thật ghi trong Đại Nam Thực Lục, tiếc rằng bộ sách này không có giá trị.

[2] Bản tấu ngày 8/3/1868, Nguyễn Văn Tường I, t. 25.

[3] Gosselin, L’Empire d’Annam, t. 116.

[4] Nguyễn Quốc Trị, Nguyễn Văn Tường, tập I, t. 432.

[5] Gosselin, Phụ lục số 9, t. 528.

[6] Nguyễn Văn Tường, Tập II, Phụ lục 4a, t. 936.

[7] Nguyễn Văn Tường, II, Phụ Lục 4b, t. 944-966.

[8] Nguyễn Văn Tường, I, t. 165, Đại Nam Thực Lục, Tập IX, t. 74.

[9] Nguyễn Văn Tường, I, t. 166-167.

[10] In trong La place du Catholicisme dans les relations entre la France et le Vietnam de 1870 à 1886. (Vị thế của đạo Chúa trong quan hệ Pháp-Việt từ 1870 đến 1886), nxb Peter Lang, Berne, 1992.