Từ điển tiếng Việt định nghĩa mời lơi là mời lấy lệ (mời cho có) chớ không thật lòng mời ai đó thăm dự/ăn uống.

Trong phóng sự Việc Làng của cố nhà văn Ngô Tất Tố mô tả anh mõ làng tên Mới là một nhân vật rất quan trọng không thể thiếu được trong các dịp cúng giỗ ở đình làng, vì anh này có “nghệ thuật” chia thịt gà “đệ nhứt thiên hạ”. Cầm trong tay con dao bén ngót, anh Mới chặt một con gà trống ra chia cái đầu gà thành 5 miếng mà miếng nào cũng có dính một tí xíu mỏ gà, cái phao câu chia 4 miếng, phần thịt gà còn lại anh băm thành 92 miếng mỏng tanh như tờ giấy. “Trông những miếng thịt gà của hắn bốc ra góc mâm, mới đẹp làm sao! Không giập, không nát, không bong da, nó giống như tập cánh con bươm bướm. Nếu để trước môi mà thổi, có thể bay được mười thước”. Xong anh Mới xếp thịt gà lên dĩa, sao cho dĩa của các cụ hương chức hội tề làng mỗi dĩa phải có một miếng đầu gà, nói trắng ra là miếng xương đầu gà chớ có tí thịt nào đâu, nhưng không có đầu gà là không được, mất thể diện “người trên trước” trong làng. Tùy theo vai vế trong làng mà anh Mới chia cho “các cụ” có phần đầu gà, “đàn anh” có miếng phao câu gà, ai có phần cánh gà, ai có phần đùi gà, thịt bộng gà chia đều dĩa nào cũng có một miếng. Người làng nể anh Mới ở chỗ cho dù phải chia thành 2 trăm phần thì anh Mõ cũng vung dao lia lịa “chém” ra đủ 2 trăm phần, không thừa không thiếu một miếng nào.

“Một miếng giữa đàng bằng một sàng xó bếp”. Câu chuyện trên cho thấy tục lệ cổ hủ, tính sĩ diện hão ở các làng quê miền Bắc thời trước. Hơn thua nhau đến chết, hại biết bao người đàn bà nhà quê khổ sở cũng vì “chiếu trên chiếu dưới” hay miếng thịt gà ở đình làng.

Miếng thịt gà giữa đình làng tuy mỏng như miếng bánh tráng nhưng vẫn là có miếng thịt, tệ hơn, bần tiện hơn, sĩ diện hão hơn nữa là thói “mời lơi” của người miền Bắc. Họ mời rất sốt sắng, nhiệt tình, nếu quý vị từ chối thì không yên thân với cái miệng của họ và họ làm cho quý vị có cảm giác quý vị từ chối là quý vị mắc lỗi rất lớn với họ. Những người Nam kỳ thật thà “suy bụng ta ra bụng người” thấy vậy nhận lời mời thì đó lại là một thảm họa, sẽ bị coi là “vô duyên”.

Bảo Huân

Tưởng đâu thói xấu này chỉ có thời người miền Bắc còn đói phải ăn bo bo, “một hạt cơm cõng ba miếng sắn”, tôi thật bất ngờ khi biết “mời lơi” vẫn phổ biến ở những người Bắc kỳ trẻ và phô trương luôn cho người Tây “nếm mùi”.

Xem thêm:   Rạp hát Quốc Thanh cùng trăm nỗi phôi phai

Có “cô Bắc kỳ nho nhỏ” kia lên mạng làm quen với mấy ông Tây trò chuyện linh tinh. Gặp ngay một ông Tây châu Âu nói qua nói lại chuyện gia đình, công việc… ra chiều rất là thân mật, quan tâm tới đời sống cá nhân ông Tây kia. “Cô Bắc kỳ nho nhỏ” hỏi ông Tây rảnh thì làm gì, ông Tây nói tính du lịch nhưng chưa biết đi đâu. “Cô Bắc kỳ nho nhỏ” sốt sắng mời ông Tây về quê cô chơi “thắng cảnh Ha Long Bay”. Một ngày đẹp trời, ông Tây nhắn tin cho “cô Bắc kỳ nho nhỏ” nói ổng tới Hạ Long rồi, nhắn địa chỉ nhà cô để ổng mướn xe tới. Dĩ nhiên “cô Bắc kỳ nho nhỏ” lặn mất tăm vì cô đâu có ý định mời ông Tây đó về nhà cô.

Dân Nam kỳ có thói quen gặp nhau thay vì “Chào bác (cô/chú/anh/chị/em…)” thì chào nhau bằng câu “Ăn cơm chưa?” và mời người đó về nhà mình ăn cơm. Hoặc khách tới nhà thì chủ nhà nói “Gặp bữa ăn cơm luôn đi”. Nếu khách từ chối, chủ nhà nói “Tốn thêm có cái chén, đôi đũa thôi chớ có gì mà ngại”. Dân Nam kỳ dọn cơm ra ăn là bưng nguyên nồi cơm lên để kế bên mâm cơm, khi ăn hết chén mạnh ai nấy đứng dậy bới cơm, không có vụ con dâu (hoặc đứa con nhỏ) đứng hầu cơm (xới cơm) cho người trong nhà, kể cả em chồng, con cháu bên chồng. Nam kỳ hễ mời cơm là mời thiệt chớ không mời lơi.

Xem thêm:   Sáng chế từ trái tim

Dân quê xứ tôi thời “no cơm ấm áo” trong nhà lúc nào cũng có sẵn lu gạo, cha mẹ đi làm ngoài ruộng suốt ngày, con nít ở nhà đói tự xúc gạo nấu cơm ăn, thiếu đồ ăn thì kiếm rau bắt cá gì đó xung quanh nhà, hoặc mở hũ lấy mắm sống ra ăn cơm. Gì chớ nồi cơm chín trong nhà lúc nào cũng có. Hàng xóm tôi làm nghề bán gạo, cứ đầu tháng ông bà đem lúa chà gạo mới rồi tự vác gạo qua đổ vô lu chứa gạo trong nhà bếp 2 bao, mỗi bao 2 táo gạo. Xong gặp cha tôi nói “Gạo mới đổ 2 bao nghen chú Sáu.” Cha tôi hỏi bao nhiêu và lấy tiền đưa cho ông bán gạo liền. Ở xóm rủi hết gạo thì xách thau qua nhà hàng xóm mượn gạo qua lại, chà gạo xong xúc đem trả. Một táo là 20 lít, một giạ là 40 lít. Đong gạo tính bằng táo, đong lúa tính bằng giạ. Chuối tính bằng nải, trái cây tính chục.

Sau ngày 30 tháng Tư Đen thì bất kỳ thứ gì cũng bắt buộc chuyển qua cân ký lô hết, không xài lít, táo, giạ gì nữa. Gạo bán phân phối theo tem phiếu thì cũng không nhà ai dư gạo cho hàng xóm mượn ăn đỡ. Có tiền mua nửa ký, một ký gạo về nấu ăn, không tiền thì nhịn. Cũng từ dạo ấy văn hóa tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn có hàng xóm của dân Nam kỳ cũng rụi tàn. Bây giờ mà nói chuyện qua hàng xóm mượn gạo ăn thì lớp người lứa 20 – 30 tuổi nghe tưởng quý vị từ cung trăng mới rớt xuống trái đất.

Cô sinh viên Nam kỳ tới nhà bạn Bắc kỳ có công việc. Làm xong rồi, anh bạn Bắc kỳ mời “Ăn cơm chưa? Ở lại ăn cơm luôn nhé?” Cô Nam kỳ tưởng thiệt bèn ở lại, vậy là bị một vài cô Bắc kỳ khác chê cô Nam kỳ “vô duyên” làm cô Nam kỳ ngỡ ngàng không hiểu tại sao thằng không có cơm ăn mà nó dám mạnh miệng mời khách, còn người được mời mà đồng ý ăn cơm lại là “vô duyên”?

Xem thêm:   Bộ đồ vía

Có người nói Bắc kỳ mời lơi là “thể hiện sự lễ phép”, “nghi thức có giáo dục”, nhưng với người Nam kỳ thì đó là hành động giả dối, làm cho người nghe khó chịu. Ủa, ai ép phải mời cơm đâu mà cố mời? Người lịch sự thấy tới giờ cơm, hoặc nghe tiếng chén dĩa khua trong bếp, hửi thấy mùi thức ăn bay lên là tự động rút lui rồi, đâu ai ngồi hoài làm chi.

Tôi thấy một số người Bắc kỳ, chụp hình khoe ăn uống đồ sang trọng, mắc tiền lên Facebook, lại viết kèm câu caption “Mời mọi người” hoặc “Mời các bạn cùng ăn/thưởng thức”. Người xem có ăn được đâu mà mời, trái lại nó thể hiện sự khoe khoang, phô trương trong lối sống.

Người Nam kỳ có chuyện tiếu lâm như vầy. Anh A dọn cơm ra, thấy anh B đi trờ tới bèn mời lơi. B hỏi “Có ớt không?” A trả lời có, B nói “Có ớt thì ăn vài chén”. Rồi vô làm một hơi mấy chén cơm liền. Hôm sau A cũng mời lơi, B hỏi “Có ớt không?” A sợ B ăn, bèn nói “Không”. B nói “Mấy bữa trước ăn có ớt cay quá. Hôm nay không có ớt ăn chơi vài chén”. Rồi B vô ăn liền một lúc mấy chén. Vài hôm sau A lại mời lơi, B hỏi “Có ớt nhiều không?” A nói “Ớt nhiều”. B nói “Ớt nhiều ăn vài chén, hôm trước ớt ít quá ăn không ngon”. Từ đó A hết dám mời lơi B nữa.

Người Nam kỳ có câu “Mời lơi ăn chơi bõ ghét” là vậy. Nhắm mời được thì mời, không thì thôi, không mời lơi rồi khách ăn thiệt lại chửi khách “vô duyên”.

TPT