“…Chỉ là những câu chuyện vụn vặt được chắp nối qua những mảnh đời dân quê miệt kinh rạch hầu san sẻ cùng bạn trẻ, những người chưa hoặc không có dịp sống gần gũi với dân ruộng về các miền kinh rạch ấy như một nét đặc thù của văn minh Việt bên cạnh một nếp “văn minh miệt vườn” khá sung túc, trù phú…” (Hai Trầu Lương Thư Trung).

Luôn tự nhận mình là một “người nhà quê”, nhưng ai cũng hiểu là cách nói khiêm cung của một học giả, kiến thức quảng bác, như bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trìu mến nhận định “Nó là văn chương miệt vườn. Sau này muốn biết về miền Nam mưa nắng hai mùa ra sao thì phải đọc Sơn Nam và Hai Trầu thôi.”.

Mời bạn cùng chúng tôi dạo chơi cùng mưa nắng miền Nam…

(tiếp theo)

Vào thứ Sáu tới, lại vô vòng tứ kết. Lần đầu tiên kể từ hồi năm 1930 tới giờ, tính ra tròn 72 năm rồi, nước Mỹ mới lọt vô vòng này. Cái đó vừa là một điều hiếm mà cũng lạ. Rồi lại thêm anh chàng Nam Hàn lại vô vòng tứ kết theo, thêm một cái lạ khác. Giải túc cầu thế giới lần này nhiều cái lạ và mới quá mạng. Nhưng cái anh chàng Ronaldo, mang số 9, đội banh Ba Tây, mà chú mê hồi 4 năm trước, thì vẫn cũ. Có lần hai chú cháu mình nhắc Ronaldo hoài, sao mà đá banh giỏi quá mạng lại còn hiền nữa. Vô trận nào cũng bị  đối phương kèm té lên té xuống, vậy mà rồi lồm cồm ngồi dậy không nói không rằng, tiếp tục lừa banh sút vô gôn làm thủ môn choáng váng. Tổng kết hai giai đoạn đầu, dường như trận nào Ronaldo cũng gởi thủ môn của đội bạn giữ giùm mỗi trận mỗi bàn để mò mò vô vòng kế tiếp. Được như vậy chắc có lẽ nhờ Ronaldo nhớ câu Kiều “có tài đừng cậy chi tài”. 

Hai cháu thân mến, 

Nhắc đá banh là chú nhớ Huyền Vũ trực tiếp truyền thanh các trận banh quốc tế một thời. Bây giờ, biết bao giờ có được giọng nói cũ của lúc chú còn chưa biết đời thế nào là cực ấy!!!  Luật đá banh, từ hồi banh bó bằng rơm, bằng lá chuối cho chí đến thời hiện đại này là khi nào trái banh còn đang lăn trên sân cỏ là còn hy vọng. Việc thắng thua bao giờ cũng chỉ là trò chơi giải trí nhằm cho vui, chứ đừng quá ôm mộng làm giàu bằng những cú sút ra ngoài gôn mà mang nợ. Mệt dữ lắm. Chớ giỡn chơi!!! Thăm hai cháu và gia quyến vạn an. 

Cuối thơ, 

Hai Trầu 

Ký giả Huyền Vũ – nguồn nguyễn ngọc chính 

Cò rò coi hát cọp

Kinh xáng Bốn Tổng ngày… tháng 11 năm 2003 

  

Thưa Thầy Nguyễn Hưng Quốc. 

Mấy hôm nay sắp nhỏ vừa xuống giống vụ Đông Xuân xong, có chút thì giờ rảnh, tui bèn viết lá thư này, trước thăm thầy mạnh giỏi, sau xin có lời cảm ơn thầy đã bỏ thì giờ viết cho bà con đọc một số con vật có trong con người để “đại chúng” cùng đọc. Thật là thú vị. 

Dưới ánh đèn dầu lờ mờ, tui mới bèn nhớ lại bài viết “…và những con khác” của thầy, mà thằng em tui bên Mỹ nó “i-meo” dìa cách nay vài bữa, tui đọc đi đọc lại năm lần bảy lượt, rồi nhập tâm, không ngủ được. Dù biết mình không rành chữ nghĩa, và cái gốc làm ruộng làm rẫy nó làm mình mê man hết biết đường mò bể thánh rừng nho bao la trời đất, nhưng có cái vụ này, theo thiển ý của tui thì xin góp chút chút với thầy với ước mong là tô bồi thêm mấy chữ thường xài ở trong bá tánh dân gian, mà nhất là nơi kinh cùn nước cạn như kinh xáng Bốn Tổng miệt Ba Thê, núi Sập này hay xài, cùng kính mong thầy bỏ qua cho sự đường đột. 

Xem thêm:   Khi Vintage đụng À la mode

Thưa Thầy, 

Trước hết, về chữ “cọp”, mà mình hay xài trong việc đọc báo hay coi hát, tui nghi chắc không phải là do chữ “cọp” từ con cọp chuyển đổi ra quá thầy Quốc ơi. Vì xài “cọp” cái gì của người khác, dù thân hay lạ, người xài cách này dù mặt có dày hay còn chút tự trọng, thái độ của họ cũng bẽn lẽn lắm, cũng ngại lắm chứ không như câu chữ dân quê ở đây hay nhắc hoài là “hùm chết để da”. Mà ở đây, chữ “cọp” nó nhái chữ “cọp-dê”, làm tui nhớ hồi nhỏ tui hay bị thầy giáo khẻ tay mấy cây thước bảng vì tội không chịu làm bài tập ở nhà, cứ vào lớp là lo “cọp dê” của người bạn ngồi bên cạnh.  

“Cọp-dê” nó có cái chất lén lút, không dám làm công khai, và không phải bận tâm nặn đầu nặn óc suy nghĩ đặng làm bài như nhiều bạn khác. Và khi đã chúi mũi lo “cọp dê” rồi, thì trật trúng gì cũng đều gia bất biết. Cứ cắm đầu chép đại vô miễn sao cho đầy trang giấy là được. Nếu đi thi mà cứ chúi đầu lo cọp dê thì rớt là cái chắc vì mấy khi mà qua mặt trót lọt các thầy giám thị coi thi. Hồi nhỏ tui bị rớt bằng sơ học mấy keo như vậy hồi học với thầy Trang ở trường sơ học Vàm Nha, kế bên chùa Kỳ Viên trên đường vô chợ Cần Đăng vô Xà Tón. 

Chính vì không phải hao tốn đầu óc suy nghĩ, học hành nên cái gì xài mà không tốn thì bà con mình hay nói “xài cọp”, như “coi hát cọp”, tức là gánh hát bội hay gánh hát cải lương dìa đình, tụi nhỏ tụi tui hồi đó mê lắm. Nghe tiếng trống lung tung, lung tung rao bảng trên chiếc xuồng hay chiếc xe lôi là cơm nước nuốt hết muốn vô. Chỉ trông bương cho tới chiều là rủ nhau ra đình coi hát cọp. Vì không có tiền mua vé vô cửa nên tụi tui hay vạch lỗ mê bồ cứt trâu che chung quanh sân khấu chun vô coi ké, thường cũng gần vãn hát mới coi được vài màn. Vì mấy người gác cửa cũng gác gắt lắm. Còn “đọc báo cọp” cũng đâu có tốn tiền. Đến bên sạp báo mượn tờ báo đọc liếc liếc qua vài cái tựa hoặc ngồi đó mượn đọc một hồi rồi đứng dậy phủi đít ra dìa, khỏi phải mua chi cho tốn tiền. Vậy mà có khi còn đọc ba bốn tờ liên tiếp, làm báo bị bèo nhèo, mềm ra như trái chuối bị giập mình giập mẩy. 

Lẽ thứ ba, tui thấy hai chữ “cọp” và “chùa” hay xài ở miệt kinh xáng Bốn Tổng, xã Định Mỹ của tui là cái gì không ăn được, nặng phần trí óc thì xài chữ “cọp”. Chẳng hạn như “đọc báo cọp”, “coi hát cọp”. Còn cái gì thuộc về ăn uống, nhậu nhẹt thì hay xài chữ “chùa”. Cái này cũng do nơi tục lệ ở làng là ăn cơm chùa không phải tốn tiền. Ngày rằm lớn bà con trong làng xúm xít lại tiếp với chùa, người xắt sả, kẻ nạo dừa lo nấu cơm cúng Phật rồi cùng nhau thọ trai vào giờ ngọ. Chùa làng, dường như chùa nào cũng khá giả, có chút vườn cây ăn trái, có đất trồng sao, trồng dầu, trồng tre, trồng trúc, trồng chuối để có chút ít huê lợi mua nhang đèn cúng kiếng Phật Trời. Rồi lại thêm có đất ruộng để cày cấy có lương thực cho chùa. Nên gọi là của chùa, không có nghĩa là cái gì ăn cũng khỏi mất tiền, đa phần chỉ có ăn cơm là không tốn tiền. Còn các thứ khác, chùa cũng phải bán mới có tiền để lo việc nhang đèn cho chùa mỗi ngày. 

“Cọp dê” – nguồn Facebook

Còn một chữ nữa là “cò”. Thường ở nhà quê tui, nhứt là trong nghề đuổi chim bắt cá có nhiều thứ mồi lắm thầy Quốc. Hồi trước vườn tược còn rậm rạp, đất rộng người thưa, nhà này cách nhà kia có tới mấy công đất, chim chóc nhiều lắm, bắt ăn không hết. Nhưng bắt dễ quá bằng cách săn đuổi, giậm cù bằng đăng bằng lọp riết rồi cũng dễ chán. Thành ra, người ta mới nuôi những con cu mồi, quốc mồi, chích chòe mồi, trích mồi, cò mồi để nhử mấy con chim rừng. Vì có ngồi rình hai con cu nhà nuôi làm cu mồi với con cu rừng đá nhau người nuôi cu mới khoái chí tử. Hồi xưa tía tui kể lại là chạy giặc Tây bên đít mà cu đang cáp độ trên cây, mê quá quên chạy giặc, rồi bị Tây nó rượt nà vo, túng thế phải nhảy vô bụi lát gần đó nằm im re mà chịu trận. Mà vụ này cụ Vương Hồng Sển, cũng có kể hồi chạy giặc đàn Thổ, đang gác cu cũng mê như vậy. Ông bà mình tự đặt để con gì đem ra nhử con khác cùng giống với nó thì gọi là mồi. Và chỉ cùng giống với nhau mới nhử mồi với nhau mới được. Chẳng hạn cu mồi thì chỉ để gác cu rừng. Trích mồi thì gác trích rừng. Quốc mồi thì gác quốc rừng mà thôi không thể gác các loài chim khác được. Nhưng có lẽ, con cò dễ kêu tên và thuận miệng, nên cò được xài thường hơn, chứ thật ra, không phải tại con cò nó xấu xa gì. Và những con chim bị làm mồi thì cũng do con người đặt để ráo trọi. Phải hông thầy? Thành ra con người mà làm cò mồi với con người thì thật dễ sợ hơn bất cứ con gì trong trời đất này. 

Xem thêm:   Cô vợ tuổi ngọ

Nhưng với nghề bắt cá giăng câu hay nhắp cá, các loại mồi có khác nhau tùy từng loại cá, rồi còn tùy từng mùa. Tức là cá rô thích bồ cào châu chấu, gạch cua, trứng kiến vàng. Cá lóc thì mồi trùn ăn đỡ đói thôi, chứ mấy chú này thích nhứt là mồi chạy vào mùa nước mới lên. Đến tháng gió bấc, hàm răng bị ê nên cá lóc lại chê mồi chạy mà chuyển qua mồi cắt, mồi trùn. Mồi chạy, thầy có khi nào nghe kể chưa. Thì tiện thể cũng xin kể ra ba cái lặt vặt ở miệt kinh này nghe cho vui. Mồi nào còn sống, bơi nhảy được, tụi tui dân ruộng gọi chung là mồi chạy. Chẳng hạn mồi nhái, mồi cá linh, mồi cua, mồi cá rô, mồi cá sặc, mồi cóc, mồi cá ròng ròng, mồi cá bảy trầu, mồi vịt con, mồi con bà chằn, mồi dế nhủi là mồi chạy. Còn mồi trùn, mồi trứng kiến vàng, mồi tép, mồi cá cắt, mồi ốc cắt, mồi rít, mồi bắp hầm, mồi hột bưởi, mồi rong đuôi chồn, mồi dây cứt quạ, mồi dừa khô… vân… vân… thì chỉ gọi trơn thôi, vì khi móc mồi, miếng mồi không cựa quậy nên gọi là mồi đứng hay mồi cắt. 

Thư cũng dài, mà muỗi cuối tháng 10 âm lịch ở dưới miệt kinh xáng này, ba cái lúa ngoài đồng vừa sạ xong, đồng bái trống trơn, nên nó bay vô vườn, vô nhà như ong vỡ ổ, nó chích tui dữ quá. Nhưng còn chữ này thầy có nói tới, xin cũng nhắc lại luôn vì mỗi lần ngồi viết thơ là mỗi lần khó. Hơn nữa, bây giờ mắt già nó mờ quá mạng, trông một nét thấy chín mười nét như cua bò, nhưng cũng ráng viết tiếp chút xíu về hai chữ “cò rò” mà thầy có giảng.  

Xem thêm:   Lá Thư Từ Kinh Xáng 1 (kỳ 26)

Theo ý ngu của tui và cũng theo cái biết trong nghề làm ruộng của mấy đời ông cha tui để lại là trong cái nghề lúa sạ này, mình muốn sạ lúa cho nó đừng chỗ này rậm chỗ kia thưa, thì cách hay nhứt là phải có cấm “rò”. Vậy chữ “rò” nguyên ở trong nghề ruộng là cái lối nhỏ vừa giáp tầm tay khi nắm một nắm lúa giống quăng bung ra vừa đủ, không dư chỗ này mà cũng không thiếu chỗ kia, để tránh tình trạng sạ chồng mí, mà chỗ khác lúa giống không có hột nào. Hai bên cái lối nhỏ bà con làm ruộng gọi là “rò” đó, người ta thường dùng cây đế hoặc cây sậy, nhánh tre, lá dừa để cắm dài dài theo như làm dấu cái lối cho dễ thấy. Và cũng để dễ nhận ra cái lằn ranh của mỗi rò như vậy, người ta hay bẻ cò cái ngọn sậy xuống một chút cho dễ nhận. Thành ra, khi bắt đầu sạ lúa, người bưng thúng lúa giống phải đi theo cái “rò” được phân ranh bằng hai hàng sậy hoặc hai hàng lá dừa hai bên đó để vãi lúa giống ra, không được đi trịch qua “rò” khác. Sạ hết rò này, bắt liền mí vãi qua rò khác cho đến khi hết đất.  

Ngày trước làm lúa mùa, mỗi công đất chỉ vãi một thùng lúa giống, hoặc sau này qua làm lúa thần nông, mỗi công đất tối đa cũng chỉ vãi một giạ rưỡi lúa giống, chứ ít ai dùng lúa giống nhiều hơn, vì thế người vãi lúa phải là người sành nghề làm ruộng và đi trong lối rò hạn định như vậy với số lúa giống ít như vậy, người ta phải bước chậm và đều bước, vì sợ lúa giống thiếu nên cái thế đi cũng không được thong dong như đi chơi, thành ra hai chữ “cò rò” là có căn như vậy, chứ không chắc do chữ “co ro” đọc trại ra.  

Nói có sách mách có chứng, nhưng khổ nỗi là ở nhà quê có nhiều cái biết thì biết vậy nhưng có giấy viết gì đâu mà ghi lại cho đời sau làm bút lục đâu thầy. Chắc thầy cũng thông cảm cho miệt kinh cùn này. Cái gì cũng vói hoài mà không thấy tới đâu. Giỏi lắm là chỉ gãi được cái đầu mình với cái vốn chưa đầy lá mít. 

Giờ này, chim chìa vôi gần kêu rồi. Trời hừng hừng rạng đông. Thế là tui bị mất ngủ một đêm viết mấy câu lòng thòng này gởi qua thầy đọc cho vui. Có gì không phải thì cũng xin vì chỗ quê mùa, lại già cả rồi quên trước quên sau, mong thầy châm chước bỏ qua cho. Rất đa tạ. 

Nay thư, 

Hai Trầu