Từ nhỏ, tôi đọc trong sách, thấy viết phong tục tập quán trong các gia đình ở miền Bắc Việt Nam xưa khi dọn cơm ra ăn thì con dâu có bổn phận ngồi kế bên nồi cơm “đơm cơm” (bới cơm) vô chén cho cả gia đình chồng, kể cả người nhỏ nhứt trong gia đình. Người nào ăn hết lại giơ chén ra thì cô dâu chạy tới đỡ lấy cái chén và lui cui đơm đầy chén cơm mới đưa lại cho người ấy. Vì vậy suốt bữa cơm chẳng mấy khi cô con dâu có đủ thời gian để ăn chén cơm của chính mình. Sau khi cả nhà đã ăn no thì nàng dâu đành nhịn đói vì… hết cơm, lại lui cui dọn mâm chén bát đầy ú hụ xuống bếp rửa ráy. 

Phong tục miền Tây Nam kỳ Việt Nam con dâu không có nghĩa vụ phải đứng “hầu cơm” cha mẹ chồng, càng không có nghĩa vụ đứng “hầu cơm” bất kỳ ai. Cơm nước nấu xong, dọn lên mâm bày trên bàn. Nhà quyền quý sang trọng thì con cái (không nhứt thiết là dâu, có thể là con trai) ra nói “Dạ, con mời ba má vô ăn cơm.” Nhà bình dân tiểu thương phố thị, nông dân đơn giản hơn, nhứt là ở nông thôn, con cháu ra cửa đứng hét lên, “Ba má (hoặc nội/ngoại/chú/thím) vô ăn cơm.” Mà phải hét lên vài lần thì người ở ngoài đồng mới có thể nghe thấy. Người miền Tây khi ăn cơm mạnh ai nấy bới, người dọn cơm chỉ bới cơm bày ra mâm một lần đầu tiên, ăn hết thì tự đứng dậy đi qua phía nồi cơm bới cơm vô chén mình. Trên mâm hết thức ăn, bất kỳ ai cũng có thể đứng lên vô bếp bê luôn nồi thức ăn đem ra để lên mâm tiếp tục ăn. 

Có lẽ vì vậy mà người Nam kỳ rất ưa chuộng cái tô con gà. Tô con gà là cái tô gốm tráng men rẻ tiền size bự nhứt trong hàng trận tô chén thời ấy, có thể chứa được 2 lít nước, ngoài có vẽ hình con gà trống 3 màu nâu đỏ đen, còn gọi là “tô số 1.” Tới bữa ăn con nít từ 5 tuổi trở lên được phát cho mỗi đứa một cái tô con gà đựng đầy đủ cơm và thức ăn trong đó, muốn bưng đi đâu ăn tùy ý. Kể cả thanh niên choi choi chưa vợ cũng thích bưng tô con gà, ăn hết thì về nhà lấy thêm tô cơm khác. Tôi hồi nhỏ cũng thích bưng tô con gà. Ngồi ăn cùng mâm với người lớn đối với tôi là một “cực hình,” cảm thấy gò bó, không vui chút nào hết. Tôi thường đòi mẹ bới cho tôi một tô cơm, bỏ vô tô 2 con ba khía Rạch Gốc (thứ ba khía vỏ màu nâu đỏ, có trứng đỏ au, gạch son trong mai ba khía đỏ màu củ cà rốt, ăn rất béo.) Rồi tôi bưng tô ra đường ngồi, vừa ăn vừa coi đám bạn hàng xóm chơi tạt lon, nhảy lò cò, nhảy dây. Cũng có khi tôi bưng tô qua nhà hàng xóm coi bà hàng xóm thắt võng bằng dây lát, hoặc vá lưới thoăn thoắt. Tôi học lóm cách thắt võng, đan võng, vá lưới từ dạo ấy. 

Xem thêm:   Báo Tết

Người xưa có câu, “Học ăn, học nói, học gói, học mở.” Học ăn không đơn thuần là cách há miệng ra, cho thức ăn vô miệng, nhai kỹ, lừa xương (nếu có), rồi nuốt xuống dạ dày, mà là học cách ăn sao cho được người xung quanh coi chúng ta là người có giáo dục, có lịch sự, có văn hóa. 

Câu “Ăn coi nồi, ngồi coi hướng” là một trong những khuôn phép dạy cách ăn. Tôi nghĩ rằng câu này xuất xứ từ miền Nam, bởi lẽ người miền Bắc khi ăn đã có nàng dâu “coi nồi” giúp rồi, có ai tự đứng lên bới cơm cho mình đâu mà “thấy nồi.” Nàng dâu cũng là người có trách nhiệm “châm” thức ăn lên mâm, cô ấy sẽ liệu coi phần thức ăn dưới bếp như thế nào mà múc đưa lên bao nhiêu thì phù hợp. 

Lúc nhỏ, tôi học tới bài kể về ông Tú Xương (hay Ba Giai, Tú Xuất, Xiển Bột gì đó, lâu quá tôi không nhớ rõ) vay tiền mua gà, mua heo nấu cỗ rồi mời bạn bè, quan chức hội tề tới nhà nhậu nhẹt, chỉ để “gia chủ” nói xiên nói xỏ mấy ông khách vài câu và rất lấy làm hỉ hả. Những món gì ngon nhứt dưới bếp vợ “gia chủ” phải đem lên khách tận hưởng hết. Vợ con “gia chủ” chỉ được ăn phần đầu thừa đuôi thẹo, lẳng lặng gặm xương thừa dưới bếp. Cuối cùng thì gia đình mang công mắc nợ, vợ con đói rách. Tôi thật sự không hiểu nổi tại sao thế gian lại có lão chồng như vậy, vợ con trong nhà là những người hết lòng hy sinh cho lão mà lão không biết thương họ thì trên đời này lão thương ai? Đừng nói tới chuyện quốc gia đại sự lớn lao khác. Tôi không hiểu tại sao chuyện vớ vẩn như vậy mà lại đưa vô chương trình dạy cho học trò nhỏ? Sau này tôi tự suy nghĩ ra là cộng sản thích các trò xỏ xiên tiểu nhân, dù thiệt hại cho “phe ta” vẫn cứ làm để “thể hiện” với người ngoài. 

Xem thêm:   Lá Thư Từ Kinh Xáng 1 (kỳ 27)

Người Nam kỳ tự mình bới cơm cho mình, nên ai ăn cũng phải “coi nồi.” “Coi nồi” là coi trong nhà có bao nhiêu người, bao nhiêu người đã ăn, đang ăn và chưa ăn, so với số cơm và thức ăn đang có mà tự giới hạn khẩu phần ăn của mình sao cho phù hợp, không ai phải nhịn đói hoặc ăn quá ít không đủ no. Tôi nhớ anh hàng xóm kế bên nhà tôi, mỗi lần đi học về, má ảnh kêu ra sau bới cơm ăn, ảnh mở nắp nồi cơm lên nhìn xong đều hỏi, “Nhà còn ai chưa ăn cơm không má?” Nếu bà má trả lời, “Ăn hết rồi” thì ảnh cười híp mắt, nói nhỏ nhỏ “Tao ăn hết” rồi “chơi” luôn một tô con gà bưng ra ngồi xuống ngạch cửa ăn. 

Thằng em tôi làm biếng rửa chén lắm. Nó ăn cơm luôn chừa lại một chút xíu thức ăn trong nồi/dĩa rồi nó bưng cất vô tủ garde-manger để khỏi phải đem rửa đồ đựng thức ăn. Tất nhiên, chút xíu thức ăn đó không đủ cho người ăn sau ăn hết bữa cơm. Mẹ tôi mở tủ, thấy vậy phải bưng hết ra dọn rửa và mẹ tôi chửi nó um sùm. “Ăn cho hết, để cho còn. Ăn hết bị đòn, ăn còn mất vợ nghe mậy. Mày ăn chừa kiểu vậy người sau ai ăn được? Chừa phải đủ người ta có mà ăn chớ. Đồ ham ăn làm biếng nhớt thây.” 

Xem thêm:   Nếu thời tiết cho phép

Cách đây hai năm tôi đi ăn tiệc, ngồi chung bàn với hai cụ “đa đề” đã ngoại bát tuần và phu nhân. Nhớ câu “Kính lão đắc thọ,” mỗi lần bồi bàn lên món trong dĩa lớn thì những người “trẻ” như tôi đều kính cẩn quay bàn mời hai cụ “đa đề” lấy thức ăn trước. Hai cụ không khách sáo, “chơi” luôn những miếng ngon nhứt vô đầy dĩa của hai cụ và hai phu nhân, rồi mới tới bọn tôi lấy thức ăn sau. Nhà hàng lên món 6 lần thì lần nào cũng vậy. Thấy người cùng bàn ái ngại, tôi nói khỏa lấp, “Không sao đâu, con còn trẻ răng chắc lắm nhai xương tốt, con thích ăn món giòn.” Tôi thật sự quá nể sức ăn của hai cụ. Trên bàn có chai rượu, hai cụ hỏi chúng tôi có uống rượu không, tôi trả lời “Dạ, con không uống rượu. Chú cứ tự nhiên.” Hai cụ bèn cùng nhau chén thù chén tạc “quứt” luôn liền tù tì hết chai rượu. Một cụ hỏi xin thêm, bồi bàn nói chủ nhân tiệc chỉ đặt mỗi bàn một chai rượu thôi, khách muốn uống thêm phải mua thì hai cụ mới chịu nghỉ uống rượu. Trong khi tôi đang ăn dở bỗng thấy bồi bàn đưa ra một số hộp “to go” và hai phu nhân bèn trút hết thức ăn trong dĩa lấy phần của họ, không hề hỏi “bọn trẻ” chúng tôi đã ăn xong chưa, có muốn lấy thức ăn “to go” hay không? Xong tiệc, bụng tôi vẫn còn đói. Trên đường về tôi cứ nghĩ không lẽ tôi “kính lão” là sai? 

TPT