“…Chỉ là những câu chuyện vụn vặt được chắp nối qua những mảnh đời dân quê miệt kinh rạch hầu san sẻ cùng bạn trẻ, những người chưa hoặc không có dịp sống gần gũi với dân ruộng về các miền kinh rạch ấy như một nét đặc thù của văn minh Việt bên cạnh một nếp “văn minh miệt vườn” khá sung túc, trù phú…” (Hai Trầu Lương Thư Trung).

Luôn tự nhận mình là một “người nhà quê”, nhưng ai cũng hiểu là cách nói khiêm cung của một học giả, kiến thức quảng bác, như bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trìu mến nhận định “Nó là văn chương miệt vườn. Sau này muốn biết về miền Nam mưa nắng hai mùa ra sao thì phải đọc Sơn Nam và Hai Trầu thôi.”.

Mời bạn cùng chúng tôi dạo chơi cùng mưa nắng miền Nam…

(tiếp theo)

Mùng Ba Tết

Kinh xáng Bốn Tổng, ngày 14 tháng 02 năm 2002

 

Chú Ba sắp nhỏ,

Hôm nay sáng Mùng Ba Tết, chị  Hai chú lui cui luộc con gà, nấu mâm cơm cúng Mùng Ba, tôi với chú Tám Bộn mới lai rai vài ly nếp than, nhắc chuyện đời xưa về các bận xuất hành vào ngày Mùng Ba Tết. Chợt nhớ lại em mình ăn Tết xa nhà, tôi mới ngồi viết lá thư đầu năm này gởi qua chú thím cùng sắp nhỏ đọc cho đỡ buồn.

Hồi xưa ở làng quê mình còn quê mùa quá là quê chú Ba à. Chữ nghĩa trong làng ngoài các vị kỳ lão tinh thông chữ Nho, sau này khi Tây vô làng là có thêm một mớ học trò làng bắt đầu học tiếng Tây, nhưng cũng ba trầy ba trật lắm nghe chú. Thành ra đi đâu cũng áo quần vải ú màu trắng, màu đen làm chuẩn, không có lấy đồ bông, đồ màu cho thêm rôm rả như sau này, chứ nói gì như bây giờ thì thôi quá mạng. Văn minh vật chất chạy ào ào vô xóm mình như ma rượt. Có tiền chạy theo văn minh, không tiền cũng vay mượn đầu này đầu kia cho có mà đua đòi. Ngồi ngẫm nghĩ lại mà ba cái vật chất này làm cái bụng con người khó mà mò cho ra lẽ chân giả được …

Ngày Mùng Ba Tết là ngày xuất hành. Chính vì vậy mà các ngành nghề ra mắt ngày Mùng Ba Tết là bắt đầu một ngày mới của năm mới đầy hy vọng. Người buôn bán hy vọng buôn may bán đắt. Người làm ruộng như mình hy vọng lúa thóc đầy bồ, heo gà mau lớn, rẫy bái mau có hoa màu. Còn mấy người cắt lúa mướn cũng cụ bị xuồng bọng củi đuốc cà ràng ông táo xuất hành về các cánh đồng đang tới mùa lúa chín mà đem sức bình sanh ra dang nắng lo kiếm ba hột lúa về nuôi bầy con nheo nhóc.

Ai ai cũng xuất hành. Nhờ vậy mà trâu bò mới được ăn bánh tét bánh ít sau một năm cày bừa trầy vi tróc vẩy. Rồi chuồng bò, chuồng heo cũng được dán giấy vàng bạc như mừng Tết trâu bò heo. Cả đến cây xoài, cây mít trong vườn cũng hưởng ba ngày Xuân dịp lễ cúng Mùng Ba với giấy tiền vàng bạc dán đầy nơi gốc mít, gốc xoài.

Nương theo cái tục lệ xuất hành đầu năm này mà nghề ăn trộm cũng bắt đầu rục rịch. Vì vậy mà đêm Mùng Ba Tết người nhà quê mình lo gom góp quần áo phơi ngoài sân, ngoài sào đem vô nhà; gà vịt nhốt vô chuồng cho chắc chắn; xuồng ghe khoá dây lòi tói cẩn thận kẻo bị ăn trộm rình nhà lấy mất, thì coi như gia tài dành dụm bao nhiêu năm chẳng còn gì… Ăn trộm ăn cắp thất đức bất nhơn như vậy mà cũng có nghề, có tổ. Thiệt là một việc quá ư vô lý chứ chẳng phải chuyện giỡn chơi.

Xem thêm:   Lối sống Hygge

Bần cùng sanh đạo tặc. Câu chữ này có cái gì không hẳn đúng lắm chú Ba à. Đâu phải ai nghèo túng quá rồi cũng biến thành trộm cắp ráo trọi đâu. Ở kinh xáng Bốn Tổng mình, tôi thấy có biết bao nhiêu nhà nghèo, nhưng đâu phải ai cũng đi ăn trộm để về nuôi vợ, nuôi con. Chỉ một vài người xấu chứng rồi đâm ra liều mạng đào tường khoét vách, nên gây tai tiếng cho người nghèo thêm tội nghiệp cho người ta quá mạng. Chú nghĩ coi có phải vậy hông?

Tết ở quê – ảnh Nguyễn Sự 

Chú Ba sắp nhỏ,

Hôm cuối năm viết lá thư thăm chú, nhân có bàn về cái tuổi đáo tuế 60 năm, rồi có chú em ở gần chỗ chú vốn là chàng rể của Thầy tôi, gởi thơ về bên này chúc Tết, rồi mới bèn hỏi:

“Anh Hai ơi, em nghe nói: “Tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, thất thập cổ lai hi”, sao không thấy Khổng Tử nói “lục thập” là gì anh Hai?”

Mèn ơi, nhận được lá thư chúc Tết của chú em bên bển tôi mừng thiệt là mừng; nhưng đến chừng đọc tới câu hỏi “lục thập” tôi mới tởn thần hồn nghe chú Ba. Cha ba cái chữ Nho thời đời nào tới giờ nó không chịu nhớ mình nghe chú. Tôi cứ ngồi bấm trán cố nhớ mà vô phương. Đến sáng nay tôi với chú Tám Bộn lai rai vài ba ly với hai cái giò gà cúng Mùng Ba, mà rồi Nho đâu lại tuôn ra ào ào.

Chú Tám Bộn vốn là cháu nội của Thầy Bảy Hiển, một ông đồ nổi tiếng ở kinh xáng mình và lại là học trò của ông nội mình nữa, nên chú còn nhớ bộn bộn. Chú ấy nhắc, tôi mới trực nhớ lại câu chữ của đức Khổng Tử trong thiên Vi – Chính, sách Luận Ngữ, nguyên văn như vầy: “Tử viết: “Ngô thập hữu ngũ nhi chí ư học; tam thập nhi lập; tứ thập nhi bất hoặc; ngũ thập nhi tri thiên mệnh; lục thập nhi nhĩ thuận; thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất dụ củ.”

Câu chữ này ngày nay theo thầy Nguyễn Hiến Lê, giáo sư trường Thoại Ngọc Hầu thời ông Nguyễn Ngọc Thơ còn làm Tỉnh trưởng Long Xuyên, dịch nghĩa: “Ta mười lăm tuổi để chí vào việc học (đạo); ba mươi tuổi biết tự lập (tức khắc kỷ phục lễ, cứ theo điều lễ mà làm); bốn mươi tuổi không còn nghi hoặc nữa (tức có đức trí, nên hiểu được rõ ba đức nhân, nghĩa, lễ); năm mươi tuổi biết mệnh trời (biết được việc nào sức người làm được, việc nào không làm được); sáu mươi tuổi đã biết theo mệnh trời (chữ “nhĩ” ở đây không phải là “tai”, mà có nghĩa là “dĩ”, tức là “đã” do chữ “dĩ” có nghĩa là “thôi, đã qua”); bảy mươi tuổi theo lòng muốn của mình mà không vượt ra ngoài khuôn khổ đạo lý (tức là không phải suy nghĩ, gắng sức mà hành động tự nhiên hợp đạo lý).(1a)

Riêng “nhĩ thuận”, giáo sư Nguyễn Hiến Lê có chú giải thêm như vầy: “Nhĩ thuận”, hầu hết các sách đều có chú giải là “tai thuận”, tức là nghe ai nói thì hiểu được ngay người đó nghĩ gì, muốn nói gì, có ý gì”.(1b)

Xem thêm:   Hôn nhân & những gập ghềnh

Thiệt vậy chú Ba. Nhớ hồi đó ông Nội của mình, cũng như chú Tám Bộn cho biết ông Nội của chú cũng cùng giảng sách cho học trò “nhĩ thuận” là “tai thuận, không có điều gì chướng ngại”. Rồi tôi mới nhớ trực lại là trong bộ Khổng Học Đăng của cụ Phan Bội Châu còn giữ ở nhà đây cũng giảng “nhĩ thuận” là “tai thuận”.

Cụ Phan Bội Châu giảng như sau, sẵn ghi ra đây luôn để chú Ba và chú em bên bển so sánh hai cách dịch của người đời xưa và đời sau, cả hai cùng bổ túc lẫn nhau cho thêm phần đầy đủ: “Ta bắt đầu từ mười lăm tuổi mới chuyên đặt lòng ở việc học; đến ba mươi tuổi sức tự lập mới chắc chắn vững vàng; đến bốn mươi tuổi mới thông thấu hết sự lý trong thiên hạ, việc gì phải hay trái, người nào tốt hay xấu, thảy xem xét biện biệt được rành rõi, không đến nỗi sai lầm; đến năm mươi tuổi mới thấu chân lý của tạo hóa, tức mệnh của trời; đến sáu mươi tuổi, lúc bấy giờ sức tri với sức hành, học vấn với kinh nghiệm thảy đều thập phần chu đáo, nên đối với sự lý nhân vật ở trong thiên hạ, hễ lọt vào tai tức khắc phán đoán được ngay, không một điều gì chướng ngại ở bên tai nữa; đến năm bảy mươi tuổi thời tiến lên một địa vị rất thông thường và rất tự nhiên, toan nói điều gì, toan làm việc gì, chỉ là chiều theo vị chủ tể ở trong lòng mình, nó muốn sao thời vậy, không bao giờ vượt ra ngoài khuôn khổ đạo lý.”(2)

Chú Ba sắp nhỏ,

Đôi lúc nhớ lại sách vở xưa cũng có nhiều cái thú vui trong ấy. Tôi cứ tưởng tượng, nếu ông bà mình ngày xưa không lưu truyền lại chút ít sách vở xưa, chắc giờ này cả gánh họ mình chí đến con cháu nhiều đời sau hết biết đường mò… Mò cua bắt ốc thì dễ, chứ mò ra chữ nghĩa thánh hiền đâu phải dễ, phải hông chú? Chú còn nhớ hông, hồi xưa ở làng mình từ trong ngọn ra tới ngoài vàm dù nghề chánh là nghề ruộng nương nhưng giấy có viết chữ Nho là bà con mình trọng lắm nghe chú. Trọng chữ, trọng Thầy, trọng nghề dạy học mà làm nên khuôn phép lễ nghi, dù thời bình hay thời loạn nhưng làng quê mình không loạn chú Ba à. Nghe nói bây giờ chữ “Thầy” không còn rạng rỡ như xưa, nhiều lúc tôi cũng buồn quá mạng.

Nhắc đến chuyện này tôi mới sực nhớ câu chữ “dĩ bất biến ứng vạn biến” khi xưa ông bà mình lúc ngồi uống trà nhắc đến sáu mươi bốn quẻ trong Kinh Dịch, quả là có cái lý lẽ riêng.

Chú Ba sắp nhỏ,

Trong sáu mươi bốn quẻ đó, bây giờ chú còn nhớ quẻ nào không? Chắc là lâu ngày quá, chú dám quên hết rồi chứ gì. Để lúc nào rảnh, tôi lục tìm lại rồi lần mò ghi ra cho chú đọc chơi lúc nhàn hạ, kể cũng là dịp tu tâm dưỡng tánh lúc tuổi già. Vì sáu mươi bốn quẻ là sáu mươi bốn “thời” trong đó mỗi “thời” lại có nhiều “hào”, tức là nhiều hoàn cảnh khác nhau ý vị lắm chú Ba à.

Bây giờ trở lại chuyện lúa thóc bên nhà. Ra Giêng này sắp nhỏ cắt một công đất gò để cày bừa lại kịp trồng ba cái bắp mùa nắng. Còn mấy vạt đất sâu chắc phải tháng Hai mới kêu công cắt đặng cắt luôn một thể, hầu kịp mùa vụ Hè Thu. Năm này tôi tính bỏ mùa lỡ, vì làm ba mùa không thêm được bao nhiêu giạ mà vụ thứ ba hay bị mưa bão ướt át quá rất khó làm. Tính đi tính lại coi vậy mà ba yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhơn hòa” là ba yếu tố làm việc gì cũng có kết quả chứ không riêng việc trị nước an dân nghe chú. Việc làm ruộng là việc chánh, việc hằng ngày nhưng không phải ai cũng làm trúng mùa hoài. Năm nào mưa thuận gió hòa thì đỡ khổ; còn năm nào thiên tai bão lụt kể như đi đời mấy tháng nhọc nhằn. Đó là tôi nói tới “thiên thời”. Còn “địa lợi” cũng vậy chú Ba à. Đất trũng quá thì hay bị chìm, mà đất gò quá lại bị nạn cỏ. Vì thế cho nên miếng ruộng ngon nhất là không trũng không gò, không sâu không cạn. Còn “nhơn hòa” trong nghề làm ruộng là cái hòa trong chòm xóm láng giềng, cái hòa trong việc giáp ranh giáp đất. Làm ruộng gần người tham, lúc nào cũng muốn lấn ranh lấn rấp là nhơn không hòa rồi. Đã không gặp được “nhơn hòa” coi như mình gặp nạn, làm ruộng không còn là thú điền viên nữa. Ngày nay đâu phải như đời xưa đâu mà chọn “đất lành chim đậu”. Người mỗi ngày mỗi đông, sanh con đẻ cháu nhiều quá mà ruộng đất đâu có nở thêm, nên đụng đâu mình “đậu” đó. Từ đó mới đẻ ra cái nạn “nhơn bất hòa” càng lúc càng nẩy nở rộng ra thêm. Thành ra, bây giờ ở bên này có đẻ ra câu phương ngôn nghe ngồ ngộ: “đất lành chim đậu; đất không lành ta nhậu luôn chim.”. Nghĩ cùng vui vui!!!

Xem thêm:   Ba mươi... vui hơn Tết

Chú Ba sắp nhỏ,

Tết năm nay người Việt mình bốn bể năm châu về quê ăn Tết cũng bộn. Nghe “ra dô”, truyền hình nói mỗi ngày có tới trên mười hai ngàn người vô sân bay Tân Sơn Nhứt. Nghe vậy tôi cũng mừng. Nhưng có điều ngẫm nghĩ lại cũng hơi lo. Người già thấy cái gì hơi lạ, hơi nhiều là hay lo là vậy. Nhiều người về quê ăn Tết quá rồi công ăn việc làm bên đó thì sao? Ai làm thế cho mình hay là khi vui chơi cho đã thèm, tới chừng trở qua bên bển lại mất công, mất việc lấy gì mà sống. Ở đây hết gạo chạy lại lối xóm mượn vài lon nấu đỡ. Không cá mú ra đồng bắt ốc hái rau cũng có bữa ăn. Còn chỗ chú không có hãng xưởng nào mướn mình, lúc bấy giờ biết vay hỏi ai đây!!!

Hôm trước, có con của chú Tư Chi trên Sài Gòn xuống, nó nói bây giờ Sài Gòn ăn nhậu bạt mạt lắm bác Hai. Người Việt ở các nước về có, mà dân Sài Gòn cũng có. Họ ăn chơi đủ kiểu, không từ thứ gì, miễn sao phung phí tiền bạc cho đã tay thì thôi. Tôi mới tự hỏi tiền đâu mà họ xài nhiều quá trong khi dân ruộng dưới này nhiều lúc mua chai thuốc sâu xịt ba con sâu keo còn chưa có. Cửa miệng người đời linh ứng lắm nghe chú. Khi có tiếng hỏi tức là có tiếng ta thán rồi vậy!!!

Chú thử nghĩ ở một quán nhậu chuyên nghiệp, đâu miệt quận Năm, hay ngoài Phú Lâm, Mũi Tàu về Lục Tỉnh gì đó, họ làm như vầy mới thấy ghê hồn.

(còn tiếp)

Chú thích

(1a), (1b) Luận Ngữ của Nguyễn Hiến Lê dịch

(2) Khổng Học Đăng của Phan Bội Châu (Huế, 1929)