Ngày xưa, trong các lễ hội, nhứt là lễ hội Xuân thì người ta thường bày trò chơi đoán chữ, ai đoán đúng được nhận quà. Quà tặng thường là một cái lồng đèn nhỏ cầm tay màu hồng hoặc đỏ, trên có vẽ bông hoặc những chữ may mắn như Phúc, Lộc, Thọ, Tài, Bảo, Chiêu, Tấn, Ninh, Định, An, Khang v.v. Có nơi chơi sang hơn, vừa tặng lồng đèn vừa tặng thêm tiền cho các giải nhứt, nhì, ba. Bất cứ ai cũng có quyền tham gia rút thăm đoán chữ, không phân biệt nam nữ, già trẻ, sang hèn. Các nam thanh nữ tú cũng coi đây là dịp để trổ tài hay chữ nhằm tìm kiếm người hôn phối. Đoán chữ thì một là theo phép chiết tự, người ra câu đố (ghi sẵn trong miếng giấy) cho một chữ để người chơi theo đó làm thành bài thơ; hai là cho một câu (nhiều chữ) để ghép thành một chữ. Một cách chơi chữ khác là chơi câu đối.

Nhà văn Nguyên Hồng (tác giả của Bỉ Vỏ) lúc sinh thời thường bị người ta thắc mắc sao ông còn trẻ mà để râu dài, lại mặc quần đụp áo nâu cộc tay như ông nông dân. Nguyên Hồng vừa vuốt râu vừa trả lời người ta giàu thì người ta chơi đồ cổ, chơi tranh, chơi gà chọi, tôi nghèo chẳng có gì thì chơi râu.

Chơi chữ là kiểu chơi thanh cao mà không tốn tiền, các Nho sĩ, học trò nghèo lều tranh quán gió đều chơi được, kiểu như ông Nguyên Hồng tự trào mình chơi râu vậy.

Tương truyền có lần sứ Tàu sang nước ta, nhân cơ hội ra câu đố để thử tài người nước Nam: “Lưỡng nhật bình đầu nhật, tứ sơn điên đảo sơn, lưỡng vương tranh nhất quốc, tứ khẩu tung hoành gian” là chữ gì? (Hai chữ nhật quay qua quay lại đều là chữ nhật, bốn chữ sơn lộn tới lộn lui cũng là chữ sơn, hai vua tranh một nước, bốn cái miệng ngang dọc cùng một nơi.) Vua ta bèn nói: Tưởng gì khó, chữ ấy con nít chăn trâu mười tuổi nước ta cũng biết. Sứ giả ngạc nhiên quá. Vua bèn cho mật gọi Trạng Hiền vô triều. Trạng Hiền tuy văn hay chữ tốt, được vua phong chức Trạng Nguyên, nhưng vẫn là đứa trẻ, thích ở nhà chơi với lũ bạn chăn trâu ngoài đồng. Sứ giả nhìn thấy một đứa trẻ đầu để ba vá, ăn mặc lôi thôi được dẫn tới. Sau khi nghe xong câu đố, nó lẳng lặng lấy tay chấm nước viết xuống sân rồng một chữ “điền” (田) rồi đi ra. Sứ giả phải chịu đứa trẻ trả lời đúng. Đây là kiểu chơi nhiều chữ ghép thành một chữ.

Xem thêm:   Cuộc chiến US-Canada

Chơi chữ kiểu chiết tự (phân chữ ra) thì ngược lại. Người ra đề cho một chữ, người giải phải phân tích chữ đó ra thành một câu có ý nghĩa, hoặc làm hẳn thành bài thơ mà bài thơ dùng những chữ được chia tách đó. Bài thơ của những người chơi phải cùng một kiểu thơ. Giải đố không được bị phạt uống một chén rượu, cứ như vậy mà xoay vòng giữa những người chơi. Thí dụ người đố đưa chữ “điền” (田) thì người chơi phải tách chữ điền thành bài thơ: “Điền tự bất thấu phong, thập tự tại đương trung, thập tự thôi thượng khứ, cổ tự doanh nhất chung.” (Chữ điền gió không thông, bởi chữ thập đứng trong, đẩy chữ thập lên trên, chữ cổ tràn một chung.)

Tương truyền tể tướng nhà Tống là Vương An Thạch, lúc thiếu thời trên đường đi thi ngang qua nhà phú hộ nọ, thấy phú ông treo câu đối kén rể như sau: “Tẩu mã đăng, đăng tẩu mã, đăng tức mã đình bộ.” (Đèn kéo quân, quân kéo đèn, đèn tắt quân đứng lại.) Câu đối chỉ có vài chữ lặp đi lặp lại, nhưng lại là câu có nghĩa. Vương sinh không đối được, thấy câu đối chơi chữ hay, bèn ghi lại và học thuộc. Thi xong, Vương sinh đi ngang qua doanh trại tướng quân, giữa sân có treo lá cờ thêu con hổ lớn. Vương sinh vào ra mắt tướng quân, thấy trong trướng có câu đề “Phi hổ kỳ, kỳ phi hổ, kỳ quyển hổ tàng thân.” (Cờ hổ bay, hổ bay cờ, cờ cuốn hổ ẩn mình.) Vương sinh nhớ tới câu đối ở nhà phú ông, bèn đọc ngay. Tướng quân đắc chí, vỗ tay khen đối hay. Vương sinh đậu đầu khoa, trở về nhà phú hộ, thấy chưa có ai đối được câu đề, bèn lấy câu đối “Phi hổ kỳ” của tướng quân đáp lại. Phú ông rất hài lòng, gả tiểu thơ cho Vương sinh. Vương sinh vinh quy bái tổ và cưới được vợ đẹp giàu sang, hai niềm vui (hỷ) đến cùng một lúc, người ta bèn lấy hai chữ hỷ ghép với nhau. Từ đó về sau người đời bắt chước Vương tể tướng, mỗi lần đám cưới lại dán chữ “song hỷ” (dù thực ra chỉ có “nhất hỷ”.)

Xem thêm:   Nhỏ mà có… tuổi

Thi hào Tô Đông Pha, có lần đọc thơ Vương An Thạch, thấy câu “Minh nguyệt sơn đầu khiếu, Hoàng khuyển ngọa hoa tâm.” Ông Tô ngạc nhiên quá, “minh nguyệt” (trăng sáng) sao lại “khiếu” (kêu,) “hoàng khuyển (chó vàng) sao lại nằm giữa bông hoa (hoa tâm.) Nghĩ ông Vương viết lầm, ông Tô bèn sửa chữ khiếu thành chữ chiếu (chiếu sáng,) chữ tâm thành chữ âm (bóng trăng.) Ông Vương cũng không nói gì. Sau này, ông Tô có dịp đi qua quê nhà ông Vương, mới biết ông Vương không viết lầm, mà đó là một kiểu chơi chữ của ông Vương. Quê ông Vương có loài chim tên là minh nguyệt, và có loài sâu tên là hoàng khuyển. Ông Tô than rằng ta tưởng sự hiểu biết của ta nhiều rồi, ai ngờ còn ít lắm. Xem ra, nghệ thuật chơi chữ không chỉ cần hay chữ, mà còn cần phải có kinh nghiệm sống dồi dào nữa.

Người Việt mình chơi chữ rất độc đáo, nhưng không dùng chữ Nho như thời xưa, mà dùng chữ quốc ngữ, đó là nói lái. Nói lái là cách đổi vị trí nguyên âm trong một cặp từ đôi, đọc lên thành nghĩa khác, nhưng người biết nói lái đều hiểu người kia muốn nói gì. Người miền Bắc ít người biết nói lái, người miền Trung và miền Nam nói lái nhiều. Có gia đình kia ở miền Nam nói lái nhiều quá, khách ở miền ngoài tới nhà chơi cứ tưởng cả nhà nói tiếng Tây. Xin đừng hiểu lầm nói ngược (đổi vị trí nguyên chữ) là nói lái.

Xem thêm:   Soi thấu tâm can

Cụ Nguyễn Khoa Vy (hiệu Thảo Am, 1881 – 1968,) làm bài thơ Nhớ Bạn, mà hai chữ đầu và hai chữ cuối câu đều nói lái rất là hóm hỉnh:

“Nhắc bạn những thương tình nhạn bắc/ Trông đời chỉ thấy cảnh trời đông/ Đêm thâu tiếng dế đâu thêm mãi/ Công khó chờ nhau biết có không.” Và một bài thơ khác cũng theo cách đó: “Đời chua, bậu cứ thử đùa chơi/ Chơi ngổ xong rồi, kiếm chỗ ngơi/ Bến đậu thênh thang, mời bậu đến/ Ngồi đây say tít, ngất ngây đời.”

Người phụ nữ nói lái nổi tiếng nhứt là nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Trong bài thơ Sư Bị Làng Đuổi bà viết: “Cái kiếp tu hành nặng đá đeo/ Vị gì một chút tẻo tèo teo/ Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc/ Trái gió thành ra phải lộn lèo!” Bà Hồ Xuân Hương còn viết nhiều bài thơ nói lái khác, tôi nghĩ trích ra một bài để quý độc giả thưởng thức cũng đủ.

Ngày nay ai có dùng mạng xã hội Facebook đều biết Facebook “càn quét” những từ ngữ “kỵ húy” không được xuất hiện trên mạng của họ. Mà ác nỗi, họ dùng máy móc để quét chớ không phải người quét, nên dù quý vị viết rất bình thường, câu cú đàng hoàng, ý nghĩa tốt đẹp nhưng đụng phải “từ húy” cũng bị vạ lây là xóa bài, nặng hơn thì cấm account. Thí dụ, câu “Vụ tai nạn làm cho một người chết/qua đời/tử vong và một người bị thương” thì các chữ “chết/qua đời/tử vong” là “kỵ húy” Facebook, phải sửa thành “đai” mới được (phát âm tiếng Anh ghi qua tiếng Việt.) Người Việt vốn thông minh bẩm sinh, nên viết kiểu gì cũng hiểu được, miễn sao “qua mặt” được Facebook thì đạt yêu cầu. Thành ra văn chương Facebook đầy dẫy các từ “hấp diêm,” “bấm dang,” “ôm trặn,” “đầu tiên,” “biệt thự,”… vui đáo để.

TPT