Trung bình mỗi ngày gần 10 tỉ đô la hàng hoá được di chuyển ngang con kênh này. Nhưng ít khi ta để ý tới nó cho đến khi có chuyện, như việc chiếc tàu hàng Ever Given của Đài Loan mắc cạn, gây không biết bao nhiêu thiệt hại kinh tế.

Địa hình kênh Suez và nơi chiếc tàu hàng Ever Given đang mắc cạn. Nguồn Satellite image by CNES, via AirbusBy Scott Reinhard 

Cả ngàn năm trước Công nguyên, các đời vua Ai Cập đã nghĩ đến việc đào kênh nối liền Hồng Hải (Red Sea) với Ðịa Trung Hải (Mediterranean Sea). Vào thế kỷ thứ 7 BC, Phê-rô Necho II cho đào con kênh từ sông Nile đến Hồng Hải. Sử gia Hy Lạp Herodotus kể rằng hơn 120 ngàn người Ai Cập đã thiệt mạng cho công trình này trước khi Necho ra lệnh ngừng vì bị chống đối. Một vị quân sư trong triều cảnh báo: “Khi thông lộ mở ra, bọn man di sẽ có phương tiện tấn công Cairo..”

Và “bọn man di” đó đã đến thật. Mới đầu là vua Darius I của Persia; kế đến là vua Ptolemy thuộc dòng dõi Ðại đế Alexander. Nhưng rồi theo thời gian biển Hồng Hải lùi dần về hướng Nam, và con kênh đào của Necho II cũng bị phù sa và đất cát lấp mất không còn vết tích.

Sau khi chiếm cứ Ai Cập năm 1798, Napoleon Bonaparte cho người nghiên cứu dự án đào kênh từ Ðịa Trung Hải sang Hồng Hải hòng dễ bề tiến sang Ấn Ðộ khi ấy đang thuộc về nước Anh. Nhưng sau khi đo đạc mọi thứ, ban nghiên cứu của ông đã kết luận (sai) rằng mực nước hai nơi cao thấp khác nhau hơn 10 mét, do đó nếu đào kênh sẽ gây ngập lụt cho vùng đồng bằng sông Nile. Thật ra thì mực nước hai bên gần bằng nhau.

Lễ khánh thành Kênh Suez năm 1869, với sự có mặt của nữ hoàng Eugenie de Montijo của Pháp. Nguồn: wikimedia.

Nửa thế kỷ sau kỹ sư Ferdinand de Lesseps, từng là một nhà ngoại giao, đã thuyết phục chính quyền Pháp tài trợ tiền bạc và chính quyền Ottoman ở Ai Cập hiến đất để đào con kênh. Khởi công năm 1858, công ty Universal Suez Ship Canal của Lesseps đã bỏ ra 10 năm trời. Ban đầu cả triệu dân lao động Ai Cập được huy động để đào bằng sức người. Về sau nhờ có thêm máy móc nên công việc trôi chảy hơn. Cuối cùng con kênh cũng xây xong và được khánh thành vào mùa Hè năm 1869.

Xem thêm:   Kiều Chinh đến Dallas

Thuở ban đầu kênh dài 164km, sâu 8m, bề ngang dưới đáy là 22m, và trên mặt từ 61m đến tối đa 91m. Kênh không được đào theo đường ngắn nhất mà có nhiều khúc cong quẹo để bắc ngang những hồ nước thiên nhiên được dùng làm chỗ tạm dừng. Ngoài ra, cách khoảng chừng 6km đến 10km còn cho xây thêm những bãi vịnh nho nhỏ (gọi là “ga”) cho phép tàu bè ngược chiều nhường nhau. Các đoạn khác kênh chỉ đủ rộng cho một chiếc tàu qua lọt. Thời gian trung bình đi từ đầu này sang đầu kia là khoảng 40 tiếng đồng hồ. Năm đầu tiên chỉ có 486 chuyến tàu qua lại, tức chưa đầy hai chiếc mỗi ngày.

Vì kênh nông và hẹp nên trong vòng 10 năm đầu đã có gần 3,000 chiếc tàu bị mắc cạn khiến giao thông bị cản trở khá thường xuyên. Bắt đầu từ 1867, kênh được nạo vét sâu thêm và xây rộng ra dần. Năm 1933 chỉ mất khoảng 13 tiếng để băng qua kênh Suez. Ðến thập niên 1960 thì bề ngang tối thiểu đã tăng lên 55m, chiều sâu khi nước ròng là 12m. Nhờ vậy lượng tàu thuyền và hàng hoá xuyên kênh gia tăng đáng kể. Năm 1966, số tàu bè trung bình băng qua Suez Canal là 58 chiếc mỗi ngày, một phần cũng nhờ kế hoạch sắp xếp lịch trình cho tàu đi từng đoàn để tận dụng các bãi “ga”. Nếu như năm 1870 lượng hàng hoá ngang qua kênh Suez chỉ có 444 ngàn tấn, thì năm 1966 con số này đã lên đến hơn 278 triệu tấn!

Kênh Suez đang được đào, năm 1860. Nguồn: wikicommons

Nhưng thập niên 1950-1960 cũng là thời điểm tình hình chính trị trong vùng bị nhiều rối loạn khiến việc thông thương bị gián đoạn. Lúc đầu Pháp và Anh là hai nước đầu tư nhiều nhất. Vì là nước có nhiều cổ phần nhất, Anh được quyền đặt các căn cứ hải quân dọc theo con kênh để kiểm soát thuyền bè qua lại, dựa trên một hiệp ước ký kết năm 1936. Nhưng đến giữa thập niên 1950 thì phong trào dân tộc tại các nước thuộc địa nổi lên. Áp lực từ dân chúng dẫn đến việc quân đội Anh phải rút khỏi Ai Cập năm 1954.

Xem thêm:   Michelle Wu người tạo mốc lịch sử tại Boston

Năm 1956, để có tiền xây đập thuỷ điện trên sông Nile, Tổng thống Abdel Nasser quyết định quốc hữu hoá kênh Suez và dùng tiền mãi lộ từ thuyền bè qua lại để tài trợ việc xây đập. Hành động đơn phương này dẫn đến sự kiện mang tên “Khủng hoảng Suez”, với Anh, Pháp và Do Thái mang quân sang hăm doạ. Liên Hiệp Quốc (được Mỹ ủng hộ) đã phải gởi các lực lượng hoà bình đến đóng quân trong khu vực để giữ hoà bình giữa hai kẻ thù truyền kiếp Ai Cập và Do Thái.

Nhưng chuyện gì phải đến đã đến. Năm 1967 Nasser “mời” lực lượng LHQ rút khỏi Ai Cập. Chiến tranh lập tức bùng nổ. Do Thái liền chiếm đóng vùng sa mạc Sinai. Ðể trả đũa, Nasser ra lệnh đóng cửa kênh Suez không cho bất cứ thuyền bè nào qua lại. Tình trạng căng thẳng này đã dẫn đến cuộc chiến giữa Do Thái và khối Ả Rập năm 1973. Mãi đến tháng Sáu 1975 kênh Suez mới được mở cửa trở lại. Trong 8 năm đó thiệt hại cho kinh tế thế giới không biết bao nhiêu mà kể, nhất là đối với những nước Âu Châu cần mua dầu hoả từ các quốc gia vùng Vịnh.

Tiến vào kênh từ Hồng Hải, thành phố Suez ở bên trái. Ảnh: jgmorard on flickr

Nói đến lịch sử và kênh Suez, ta cũng không thể không nhắc đến cuộc du hành  của một nhóm người Việt được mời sang Paris tham dự đấu xảo năm 1922. Trong quyển ‘Pháp Du Hành Trình Nhật Ký’, cụ Phạm Quỳnh thuật lại một câu chuyện rất thú vị về chuyến hải hành của 7 phái viên người Việt — từ Hải Phòng xuống Sài Gòn, sau đó băng đại dương sang Pháp. Trên chiếc tàu mang tên Armand Béhic, cụ được ở chung phòng hạng nhì với cụ Nguyễn Văn Vĩnh. Sau đây là một trích đoạn ngắn trong nhật ký cụ Phạm Quỳnh; nên nhớ thời đó nhân loại mới vừa thoát khỏi trận đại dịch H1N1 mang tên “Spanish Flu”:

Xem thêm:   Địa thuyền

“Khi tàu đến trước Suez thì có một cái sà-lúp trong bến ra cắm cờ Hồng thập tự: đó là các quan viên thầy thuốc lên tàu khám xem có người nào mắc bệnh truyền nhiễm không. Nghe nói đó là phái viên của một hội đồng vệ sinh vạn quốc đặt ra ở Suez để phòng bị cho các bệnh nguy hiểm khỏi truyền nhiễm sang Âu châu, vì đây tức là nơi cửa ngõ của châu Âu vậy.

Tàu đỗ có 3 giờ đồng hồ, tự 5 giờ đến 8 giờ tối thì chạy. Từ đây trở đi là vào địa phận sông Suez. Trước khi chạy phải buộc trước mũi tàu một cái đèn chiếu điện (projecteur électrique) mạnh lắm để soi đường ban đêm. Tàu đi trong sông phải đi rất chậm, vì lòng sông hẹp (chừng 50 thước tây), tuy số tàu đi lại rất nhiều mà chỉ đi được cái một, khi nào hai cái gặp nhau thì một cái phải đứng lại áp vào bờ cho cái kia chạy. Thường thường có những chỗ đào vũng vào trong đất gọi là “ga”, để cho tàu lớn tránh nhau.

Port-Said năm 1880. Nguồn: blacque_jacques flickr

Tiếc rằng tàu đi qua sông Suez giữa đêm nên không được xem phong cảnh hai bên bờ, như làng Ismalia, như mấy cái hồ nước mặn v.v… Nhưng sáng hôm sau cũng còn được xem ít nhiều cảnh tượng sông Suez, vì mãi đến 10 giờ tàu mới tới Port-Said.

Bờ sông về bên Á châu (Arabie) thì thấy những đất cát cây cằn, đủ biết là cõi sa mạc; bờ về bên Phi châu (Egypte), nhờ có những ngòi nước ngọt nên có chỗ nhiều cây cối xanh tươi. Chạy ngang với bờ sông, áp ngay bên sông, có một con đường xe lửa tự Suez đến Port – Said, thỉnh thoảng lại có một cái nhà ga, đến nhiều chỗ phong cảnh vui mắt, người ngồi trong tàu tưởng tượng như ngồi một cái ‘ghe’ chạy trong cái kênh nào ở Nam kỳ vậy…” [*]

IB

[*] http://www.vietnamvanhien.org/PhapDuHanhNhatKy.pdf